Bài viết này tôi đặt tên dựa theo tựa một cuốn sách của chú Đông La "Biên Độ Của Trí Tưởng Tượng". Chú Đông La có lý giải về tên cuốn sách đó rằng "bởi tưởng tượng luôn phải dựa trên nên tảng tri thức, nên nó luôn có biên độ nhất định", ngược lại với điều đó, tôi cho rằng sự ngu dốt là không có biên độ vì nó chẳng dựa trên cái gì cả.
Gần đây, Trung Quốc liên tục thực hiện những hành vi leo thang căng thẳng ở Biển Đông, phía chúng ta cũng lần đầu tiên thực sự công khai những căng thẳng đó với dư luận trong và ngoài nước, song song đó là các biện pháp tương thích đáp lại các hành vi của Trung Quốc.
Một trong những biện pháp ấy, không thể không tính đến đấu tranh pháp lý, vì vậy việc nghiên cứu cơ sở pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông không còn là câu chuyện riêng của giới hàn lâm mà trải đầy trên mặt báo.
Vì nhu cầu cấp thiết của đất nước, vì độ nóng của dư luận, dễ hiểu vì sao báo giới lại ồ ạt khai thác chủ đề này, tuy nhiên, bên cạnh những bài phân tích thấu đáo rõ ràng cũng không thiếu những bài viết mà tác giả chỉ xào nấu qua lại cho có, những bài viết đấy làm cho thông tin trở nên tù mù, rối rít. Thậm chí, một số bài viết đã cho thấy biên độ của sự ngu dốt là âm vô cùng.
Trước khi chúng ta lội theo dòng ngược của tri thức, chúng ta đi thử theo dòng chảy của nó. Câu chuyện chủ quyền về mặt pháp lý là một câu chuyện phức tạp, một trong những khía cạch rất quan trọng của nó là lịch sử chủ quyền, khía cạnh này rất nhiều người đã phân tích rõ, đi kèm với những bằng chứng lý lẽ không thể chối cãi.
Nhưng một điều mà chưa mấy ai làm đó là trải trước mặt độc giả dòng thời gian đơn giản nhất về lịch sử chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông. Tôi thử.
Các mốc thời gian về chủ quyền của Việt Nam đối với HS, TS:
Mốc đầu tiên, từ thế kỷ 17, đây là một cột mốc mơ hồ khi HS, TS mới chỉ xuất hiện dưới dạng ghi chép ở nhiều tài liệu cổ đều nói về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như là Bãi Cát Vàng vạn dặm trên Biển Đông và việc Nhà nước cử đội Hoàng Sa ra khai thác các quần đảo này.
Mốc thứ hai, vào năm 1816, mốc này là quan trọng và là đỉnh cao khi vua Gia Long sai quân lính ra quần đảo Hoàng Sa cắm cờ Việt Nam và tuyên bố chủ quyền.
Mốc thứ ba, thời kỳ Pháp thuộc, Pháp nhân danh Việt Nam tiếp tục quản lý hai quần đảo qua việc cử tàu chiến tuần tiễu để đảm bảo an ninh. Năm 1933, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định quy thuộc quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Pháp cũng tách quần đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Nam Nghĩa và đặt vào tỉnh Thừa Thiên và cho một đơn vị đóng quân ở đó. Chủ quyền danh nghĩa vẫn thuộc Nhà Nguyễn.
Mốc thứ tư, cách mạng tháng tám 1945 thành công, Pháp, Nhật bị đánh đuổi, vua Bảo Đại trao ấn kiếm lại cho chính phủ VNDCCH, VNDCCH kế thừa toàn bộ lãnh thổ của nhà Nguyễn, gồm cả TS, HS.
Mốc thứ năm, Hiệp Định Giơ - Ne - Vơ các nước nhất trí với nhau những điều khoản cơ bản, trong đó có: Các nước tham dự hội nghị cam kết tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam (dĩ nhiên kế thừa HS - TS). Đại diện cho Việt Nam ký Giơ - Ne - Vơ là VNDCCH (Chính phủ quốc gia Việt Nam từ chối không ký), như vậy chủ quyền HS, TS khi đó thuộc VNDCCH.
Mốc thứ sáu, từ năm 1955, Việt Nam Cộng Hòa được thành lập, từ chối tổng tuyển cử, tiếp nhận lãnh thổ trao trả của Pháp, tuyên bố chủ quyền với HS, TS. Quyền kiểm soát thực tế thuộc về VNCH.
Mốc thứ bảy, từ năm 1975, VNCH bại trận, Tổng Thống VNCH Dương Văn Minh bàn giao lại tất cả cho VNDCCH, VNDCCH kế thừa toàn bộ lãnh thổ của VNCH (bao gồm TS, HS).
Có thể thấy, Việt Nam đã đặt chủ quyền của mình lên Hoàng Sa, Trường Sa khi mà chưa có bất kỳ quốc gia nào tuyên bố chủ quyền 2 quần đảo đó, và từ đó đến nay Việt Nam (và đại diện cho Việt Nam là Pháp trong thời Pháp thuộc) liên tục tuyên bố chủ quyền, thực hiện quyền chủ quyền và phản đối các hành vi xâm phạm.
Chủ quyền của VN đối với HS, TS là không thể chối cãi. Mọi hành vi của nước khác tác động đến HS - TS mà chưa có sự cho phép của VN đều là hành vi xâm phạm. Điển hình là các vụ Trung Quốc dùng vũ lực đánh chiếm một số đảo của Việt Nam ở các năm 1946, 1965, 1974, 1988.
Pháp lý là lĩnh vực rất cần sự rõ ràng, và hơn bao giờ hết chung ta cần rõ ràng, việc một số nhà báo xào nấu các bài viết liên quan, đưa ra những thông tin nhập nhằng chồng chéo là một điều vô cùng tại hại.
Đã xuất hiện ngày càng nhiều những bài viết như thế thậm chí là xuất hiện cả những xuyên tạc lịch sử cũng như sa đà vào những chi tiết thừa không cần thiết, điển hình là ca ngợi thái quá VNCH đi đến đòi vinh danh này nọ, hay như có nhà báo nhắc tên đảo Song Tử Tây rồi mở ngoặc chú thích là Phillipin, những điều đó là quá thừa thãi với con mắt pháp lý, và tác dụng của nó không gì khác là làm nhiễu loạn thông tin.
Hình ảnh dưới đây là một ví dụ tiêu biểu, báo Giáo Dục, tác giả TRẦN SƠN LÂM, có đoạn: "Năm 1974, với sự bật đèn xanh của Mỹ, Trung Quốc đã cất quân xâm lược, đánh chiếm nốt phía Tây quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam thời điểm đó đang do chính phủ Việt Nam Cộng hòa đại diện dân tộc Việt Nam quản lý chờ ngày tổng tuyển cử thống nhất đất nước theo Hiệp định Geneva năm 1954 mà chính Trung Quốc cũng tham gia ký kết, nhiều quân nhân Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ quần đảo thiêng liêng của Tổ quốc trước ngoại bang."
Thứ nhất, VNCH chưa bao giờ là đại diện cho dân tộc Việt Nam, nó được sinh ra mà không thông qua bất kỳ cuộc bầu cử nào cả.
Thứ hai, năm 1974, VNCH không chờ bất cứ một cuộc tổng tuyển cử nào hết, VNCH đã từ chối tổng tuyển cử năm 1956.
Việc phải rạch ròi những chuyện đó, bởi nó là sự thật, sự thật cần được tôn trọng, đó là nguyên tắc sống còn của lịch sử và báo chí. Chúng ta hoàn toàn vẫn có thể chứng minh được chủ quyền của mình với TS, HS mà không cần mất công đi san phẳng những gai góc của lịch sử, đó là một công việc thừa thãi, không cần thiết, và lại càng làm vấn đề thêm phức tạp, nhiễu loạn mà thôi.
Giữ nguyên những gai góc lịch sử đó thì TS, HS vẫn là chủ quyền không thể chối cãi của Việt Nam, đơn giản vì toàn quốc tế không cần chúng ta trình bày những chuyện đó.
Những hô hào kiểu như "không gọi VNCH là ngụy nữa", "VNCH có chính danh", "VNCH anh dũng giữ đảo" ... trong lúc chúng ta cần bằng chứng pháp lý, cũng giống như việc người ta mua bánh mỳ kẹp thịt mà lại vào bếp ốp la trứng vậy.
"Chủ quyền đất đai biển đảo thuộc về nhân dân Việt Nam. Các chính quyền có bản chất là ngụy hay không đều có trách nhiệm giữ gìn. Các chính quyền ngụy dựa hơi Pháp Mỹ nhảy vào cướp đoạt giành quản lý một nửa đất nước thì phải có trách nhiệm bảo vệ nó trước sự xâm lược của nước ngoài. Việc làm bảo vệ bằng ngoại giao, quân sự nào đúng thì sẽ được kế thừa, làm sai sẽ phải chịu thêm tội với nhân dân, đất nước và lịch sử.
Tên gọi "ngụy " là muốn nhắc nhở bản chất của chính quyền đó để cảnh cáo các thế hệ mai sau triệt để không bước vào con đường phản quốc báo hại đất nước giống nòi nữa nhưng trên những văn bản pháp lý, ngoại giao chính thức từ xưa đến nay vẫn dùng tên gọi VNCH và do đó nếu có kiện TQ lên tòa án quốc tế thì cũng chẳng có vấn đề gì cả.
Ra tòa thì tùy theo tòa đó có công nhận tư cách chính trị ngoại giao của VNCH trong quá khứ hay không chứ không phải tùy theo Việt Nam có công nhận VNCH có chính danh hay không. Tòa án quốc tế toàn ở những nước thuộc '‘thế giới tự do'’ mà ngày xưa đã từng ủng hộ, hợp pháp hóa VNCH thì chắc chắn không tự dẫm vào đuôi của mình đặt câu hỏi về tính hợp pháp của VNCH. Về phía Việt Nam gọi VNCH là ngụy nhưng trên thực tế vẫn đã chấp nhận tư cách chính trị, ngoại giao, thực thể quản lý một phần lãnh thổ, của VNCH cho nên mới có mấy cái chuyện ngoại giao, đàm phán trong thời chiến tranh như vậy lần này ra tòa có dùng tên gọi chính thức thì vẫn là nhất quán.
Còn nếu tàu vặn vẹo thì chúng ta vặn vẹo lại! Chính quyền dân quốc hay cộng sản của Trung Quốc đã không xem nhà Thanh là chính quyền xứng đáng đại diện cho TQ nên mới lật đổ tiêu diệt tận gốc vậy thì các hiệp ước ngoại giao, chính trị có lợi cho TQ do nhà Thanh ký có bị TQ hủy bỏ, cho là vô giá trị không?
Tóm lại thì tòa án quốc tế, Việt Nam hoặc tàu sẽ không có vấn đề về tư cách chính trị ngoại giao của VNCH trên tòa.
Vậy thì có một số người cứ tiếp tục mè nheo về tên gọi ngụy chỉ có mục đích thực tế là muốn chà đạp lịch sử, trộn cơm với cám bắt các thế hệ mai sau phải ăn và bắt chước làm như ngụy cũng là yêu nước!
Có nhiều bạn ăn học cho lắm vào nhưng giúp thì không nghĩ ra được cái gì hay ho để giúp mà chỉ xoăn xoe phá đám muốn đảo lộn trắng đen dẫm đạp lịch sử, cào bằng giá trị bằng những cái cớ rất vu vơ vớ vẩn! "
Là nhà báo, cái cần nhất là óc phân tích trên nên lương tri trách nhiệm, đất nước đang cần A mà đi viết về B bằng cách xuyên tạc thì ngu là chưa đủ.
Monday, June 30, 2014
Thursday, April 3, 2014
30 THÁNG 4 và NHỮNG NGỤY BIỆN
Mỗi lần đến 30 tháng 4 chúng ta lại nghe lại một điệp khúc của những ngụy biện. Bài viết này phần nào vạch trần những ngụy biện thường gặp đó. Đã gần 40 năm nhưng thù hận ngược từ những kẻ Chống Công (CC) vẫn còn và tiếp tục truyền lại thế hệ sau. Họ trách ngược chửi ngược bằng ngụy biện để mong che lấp được tội lỗi chống lại dân tộc, tố quốc.
Ngụy biện có thể đánh lừa được những người ngu dốt, nhẹ dạ nhưng cũng rất dễ bị bẻ gãy vì nó không dựa trên sự công bằng, sự thật và sự hợp lý.
Hy vọng trong tương lai mọi người tiếp tục suy nghĩ và cùng nhau bẻ gãy, vạch trần tất cả những ngụy biện quanh quẩn đó để chúng ta sẽ không còn nghe cái điệp khúc phá đám ngày vui thống nhất của dân tộc.
Sau đây là những ngụy biện và những lý lẽ vạch trần những ngụy biện đó.
1. Không cần đánh Pháp thì cũng độc lập:
Nói thế chẳng khác nào bị ăn cướp rồi ngồi chờ ăn cướp trả lại và tất cả các cuộc kháng chiến chống thực dân của VN và các nước khác trên thế giới là sai lầm?!
Trên TG có hai nước khác cũng phải đánh Pháp mới giành được độc lập đó là Haiti và Algeria. Malaysia cũng có một nhóm kháng chiến chống thực dân Anh vào cùng thời kỳ kháng chiến 9 năm của VN nhưng không thành công.
Nếu đánh thực dân Pháp giành độc lập là sai lầm thì người Mỹ đánh thực dân Anh giành độc lập càng sai lầm hơn. Vì một bộ phận lớn người Mỹ cũng chính là người Anh và châu Âu di cư sang. Tại sao người Mỹ không ngồi đó chờ thực dân Anh ban bố độc lập cho nhỉ?
Và chuyện này nếu có trách thì phải trách Pháp, Mỹ và tay sai người Việt chứ không thể trách người kháng chiến? Đó là trách ngược! Nếu tất cả người Việt đều đoàn kết đồng lòng chống Pháp thì làm sao Pháp có thể đô hộ hay tái xâm lược được mà phải cần kháng chiến giành độc lập?
Cuộc kháng chiến càng dễ dàng hơn và có thể đã không xảy ra nếu Mỹ không ủng hộ Pháp quay lại VN.
Chỉ có hai cách để giành độc lập. Một là con đường đấu tranh chính trị, hai là kháng chiến chứ ngồi không thì dĩ nhiên sẽ không có chuyện tự nhiên được trả. Con đường chính trị VN đã thử đó là chịu độc lập trong khối liên hiệp Pháp, nhưng Pháp chỉ muốn một chính quyền bù nhìn như trước đứng đầu lại là Bảo Đại tức là mọi thứ vẫn như cũ và Pháp đã nổ súng tấn công trước nên cuộc kháng chiến mới chính thức nổ ra.
2. Mỹ không xâm lược VN:
Hành động gọi là xâm lược không chỉ gói gọn ở trường hợp xâm chiềm lãnh thổ nước khác rồi sát nhập vào của mình mà còn là trường hợp trực tiếp can thiệp chính trị quân sự vào một quốc gia, cướp đoạt chủ quyền phục vụ cho lợi ích đế quốc của mình.
Cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ thuộc vào trường hợp thứ hai.
Mỹ quyết định can thiệp trực tiếp khi Pháp thua và biết rằng nếu tổng tuyển cử xảy ra, 80% dân sẽ bầu cho Chủ tịch Hồ Chí Minh
Mỹ đã cướp đoạt chủ quyền VN bằng cách dùng cơ quan tình báo CIA vào VN xây dựng chính quyền cho Diệm, một người không có công lao kháng Pháp và không có một lực lượng chính trị hậu thuẫn ở VN để tự xây dựng chính quyền.
CIA tiến hành chiến tranh tâm lý phá hoại miền Bắc và lừa gạt lôi kéo người Công giáo miền Bắc vào Nam để hy vọng xây dựng một hậu thuẫn chính trị cho Diệm.
Khi Diệm trở nên bất kham, Mỹ bật đèn xanh cho tướng tá ngụy giết Diệm. Rõ ràng ông chủ thực sự của chính quyền ngụy là Mỹ chứ không phải tổng thống ngụy.
Khi nhắm thấy quân ngụy không thể thắng trong một cuộc đối đầu quân sự với MTDTGPMN, Mỹ đã trực tiếp đem quân vào. Cuộc xâm lược quân sự bắt đầu.
Quân đội Mỹ phải trực tiếp nhảy vào vì quân đội ngụy phần lớn là những người bị ép buộc nên không có tinh thần chiến đấu. Và sau khi tất cả các chiêu trò được tung ra đều thất bại, Mỹ phải đưa ra chiến lược cuối cùng là 'Việt Nam hóa chiến tranh'. Cái tên của chiến lược này đã chứng minh hùng hồn cuộc chiến trước đó là cuộc chiến Mỹ-Việt và Mỹ đã xâm lược Việt Nam.
Nếu cuộc chiến của Mỹ không phải là một cuộc chiến xâm lược thì nhà Thanh đã không xâm lược VN khi đem quân vào miền Bắc giúp Lê Chiêu Thống khôi phục nhà Lê. Nhà Lê so với chính quyền Diệm còn có chính danh hơn vì nguyên thủy nó không phải là do nhà Thanh dựng lên như Mỹ dựng lên VNCH.
2. Cuộc chiến tranh đó là một cuộc nội chiến, huynh đệ tương tàn:
Như vừa nói ở trên, nếu đó là 'nội chiến' thì không thể nào có cái chiến lược gọi là 'Việt Nam hóa chiến tranh'. Quân đội miền Bắc và quân giải phóng miền Nam chỉ đánh Mỹ là chính trong hầu hết thời gian cuộc chiến. Đối với quân ngụy thì hù cho chạy là chính. Quân ngụy trừ một thiểu số đã bị tẩy não quá nặng thì không có ý chí chém giết với người VN. Nếu không có Mỹ ở Việt Nam gây chia rẽ thì rõ ràng người Việt Nam không có đủ lý do để có một cuộc nội chiến tương tàn.
Nội chiến là chiến tranh nội bộ. Tự điển dịch là 'chiến tranh giữa các giai cấp hoặc lực lượng xã hội đối kháng trong một nước'. Trừ khi nước Mỹ là một phần của VN và người Mỹ là người Việt Nam, cuộc chiến đó không thể nào có thể gọi là một cuộc nội chiến.
3. 'Miền Bắc xâm lược, cưỡng chiếm miền Nam':
Nếu nói miền này xâm lược, cưỡng chiếm miền kia trong cùng một nước thì hóa ra một nước có thể tự xâm lược chính mình sao? Như vậy sách giáo khoa lịch sử của thế giới và VN cần phải đổi lại hết dùng từ 'xâm lược' cho tất cả các cuộc chiến mà miền này đánh miền kia trong cùng một nước.
Như vậy nội chiến Mỹ là một cuộc chiến xâm lược. Miền Nam muốn tách ra vì không đồng ý với chủ trương của miền Bắc và miền Bắc đã 'xâm lược' 'cưỡng chiếm' miền Nam!
Việc Vua Quang Trung đánh ra Bắc chiếm lại Bắc Hà do quân Thanh chiếm đóng theo lời cầu viện của Lê Chiêu Thống cũng là một cuộc chiến xâm lược, cưỡng chiếm Bắc Hà!
Hơn nữa miền Bắc, miền Nam chỉ là sự phân chia địa lý chứ không phải là dân miền Bắc đánh dân miền Nam vì chính quyền ngụy được xây dựng bằng thành phần nòng cốt là dân Công giáo miền Bắc di cư vào Nam và Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam là do người miền Nam lãnh đạo và tham gia.
Lại còn miền Trung thì sao?! Âm mưu chia cắt vĩnh viễn VN làm đôi, gây ra sự phân biệt, thù hằn Bắc-Nam là ý chí của Mỹ chứ không phải của dân bất cứ một miền nào của VN.
Do đó đây là cuộc chiến tranh giành độc lập thống nhất giữa đại đa số bao gồm cả người Bắc-Trung-Nam với lý tưởng đó chống lại Mỹ và ngụy là một thiểu số cũng bao gồm cả người Bắc-Trung-Nam.
Nếu dùng chữ xâm lược thì phải sửa thêm là nửa miền Nam này xâm lược nửa miền Nam kia luôn vì phần lớn vùng nông thôn VN theo phía cộng sản.
4. Mỹ vào VN là để giúp Việt Nam hay giúp miền Nam:
Mỹ giúp thực dân Pháp tái chiếm và bình định VN.
Pháp thua thì Mỹ trực tiếp nhảy vào cướp chủ quyền chia cắt VN.
Mỹ dựng lên chính quyền độc tài gia đình trị của Ngô Đình Diệm và các chính quyền độc tài quân sự sau đó và Mỹ mới là chủ nắm đầu đằng sau.
Mỹ đã tàn phá gần như toàn bộ đất nước VN ném bom bừa bãi, rải chất độc làm chết hàng triệu dân thường. Di chứng hậu quả của sự tàn bạo đó còn tồn tại cho đến ngày hôm nay và cả trăm năm sau.
Đào khoét sâu thêm chia rẽ dân tộc.
Những mục tiêu, việc làm như trên của Mỹ ở VN là phá chứ không phải giúp VN.
5. VNCH có dân chủ:
Chính quyền VNCH là một chính quyền do Mỹ xây dựng. Diệm là do Mỹ tuyển và đưa lên qua cuộc trưng cầu dân ý gian lận phế truất Bảo Đại. Khi Mỹ không điều khiển được Diệm thì bật đèn xanh để tướng tá ngụy giết. Các tướng tá ngụy sợ Mỹ hơn sợ tổng thống của họ. Rõ ràng Mỹ là chủ ở đây chứ không phải dân.
Nguyện vọng của dân quê miền Nam theo CS không được xem xét mà chỉ bị đàn áp.
Nếu bạn xem chính quyền, quân đội Mỹ là dân VN, còn dân nông thôn VN theo CS là người nước ngoài thì VNCH đúng là có dân chủ.
Một đất nước do đế quốc nước ngoài nắm đầu thì không thể gọi là dân chủ.
6. Miền Bắc cũng nhận viện trợ và được LX& TQ giúp chả khác gì miền Nam được Mỹ và đồng minh giúp:
Lại nên lưu ý về cách dùng miền Bắc, miền Nam để đại diện phe phái một cách không chính xác/dùng ngụy biện ở trên.
Miền Bắc và MTDTGPMN chỉ nhận viện trợ là để chống quân Mỹ vào VN xâm lược.
Ngụy chiu sự chỉ huy điều động của Mỹ và quân đội Mỹ trực tiếp nhảy vào đánh giết người VN ngoài chuyện viện trợ ra.
Giúp đỡ viện trợ, gửi cố vấn so với đem cả nửa triệu quân trực tiếp vào xâm lược nắm đầu một nửa nước, đánh giết tàn phá cả một đất nước là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.
7. Chiến tranh ý thức hệ:
VN không có vấn đề với ý thức hệ dân chủ của Mỹ. Chính quyền VN được xây dựng năm 1945 là một chính quyền đa đảng. VN không có ý định chống lại ý thức hệ gì đó của Mỹ mà chỉ muốn độc lập.
Thứ tự câu chuyện:
- Chính quyền VNDCCH kêu gọi Mỹ ủng hộ độc lập cho Việt Nam, giúp VN chống Pháp quay lại, nguyện giao hảo và hợp tác toàn diện với Mỹ ngay từ năm 1945 và sau đó 1946.
http://rationalrevolution.net/war/collection_of_letters_by_ho_chi_.htm
http://blogs.archives.gov/todaysdocument/2011/02/28/february-28-telegram-from-ho-chi-minh-to-harry-s-truman/
- Mỹ đã phớt lờ và quay sang giúp Pháp tái chiếm VN.
- Mỹ không giúp VN lại giúp Pháp cho nên VN mới tự chống Pháp và sau đó nhờ đến LX và tàu. Nên nhớ Cộng sản tàu chưa lên năm quyền vào những năm 1945-46.
- Mỹ lại viện cớ VN nhờ LX và tàu giúp tức là chống lại ý thức hệ dân chủ của Mỹ!
Nếu ý thức hệ dân chủ của Mỹ có nghĩa là giúp đỡ thực dân Pháp cướp nước đô hộ VN một lần nữa thì VN có chống lại cũng là đúng chứ?
Thực tế cuộc chiến là Mỹ đem quân xâm lược muốn chia cắt VN vĩnh viễn nên người VN đã chống lại. Đó là ý thức độc lập chống lại ý thức muốn nắm đầu nước khác bằng bạo lực của đế quốc.
VN nói chung không có nhu cầu chống cộng. CS quốc tế đã giúp VN đánh đuổi thực dân Pháp thì tại sao người Việt phải chống cộng? Và mâu thuẫn giữa chủ nghĩa này hay khác trong nội bộ VN thì nước ngoài cũng không được xen vào. Không có nước nào có quyền đem quân vào Mỹ để chống chủ nghĩa gì ở bên trong nước Mỹ cả, như vậy Mỹ không có cái quyền đem quân vào VN để chống cộng!
Nếu nói rằng vì Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được 80% dân chúng ủng hộ nên Mỹ phải nhảy vào chia Việt Nam làm hai để chống cộng thì rất buồn cười và vô lý và không thể nào có thể gọi là một lý do để ngụy biện cho sự xâm lược của Mỹ.
Nếu bây giờ một đảng A của Mỹ nhắm chừng sẽ thua đảng B trong một cuộc bầu cử thì những người của đảng A có quyền lập ra một quốc gia mới tách rời ra khỏi nước Mỹ với sự giúp đỡ trực tiếp của một cơ quan tình báo nước ngoài không?
Chuyện như trên đã xảy ra ở VN. Chủ tịch Hồ Chí Minh không có đối thủ trong một cuộc tổng tuyển cử ở VN nên Mỹ đã đem Diệm, một người không có công lao gì trong kháng chiến chống Pháp, không có sự ủng hộ ở VN, từ Mỹ về để đưa lên làm tổng thống qua một vụ trưng cầu dân ý gian lận lật đổ Bảo Đại. Cơ quan tình báo CIA của Mỹ do đại tá Edward Landsdale đã xây dựng chính quyền ngụy bằng cách tiến hành một chiến dịch chiến tranh tâm lý Passage to Freedom lôi kéo người Công giáo miền Bắc vào làm lực lượng hậu thuẫn cho Diệm.
8. Miền Nam giàu miền Bắc nghèo suy ra miền Nam không cần miền Bắc giải phóng:
Phần lớn miền Nam là chiến trường ác liệt thì làm sao giàu? SG giàu nhưng chỉ là một thành phố của miền Nam chứ không phải là toàn bộ miền Nam. Vì SG là đầu mối Mỹ đổ viện trợ dân sự, quân sự, tiền lương quân lính ăn chơi vào SG nên mới giàu và kinh tế nằm trong tay người tàu Chợ lớn. Sự giàu có này đòi hỏi ngụy làm cai thầu chiến tranh cho Mỹ. Thôn quê miền Nam và cả miền Bắc phải bị tàn phá, hàng ngàn người phải chết vì bom đạn, chất độc mỗi ngày. Hậu quả của những sự tàn phá đó vẫn tiếp tục kéo dài hàng trăm năm. Giàu cái kiểu cả nước phải chịu khổ cho một thành phố giàu thì cần phải chấm dứt và SG phải cần được giải phóng gấp!
Quyền lợi của một nhóm người nhỏ lợi dụng chiến tranh để trục lợi làm giàu không thể đặt trên quyền lợi của cả một dân tộc.
Miền Nam giàu như thế nào? Theo lời một phóng viên Úc thì 'miền Nam được nhớ đến với một nền kinh tế dựa trên chơ đen, ma túy, đĩ điếm và trục lợi nhờ chiến tranh
'South Vietnam is remembered as having an economy based on a black market, drugs, prostitution and war profiteering.'
http://johnpilger.com/articles/vietnam-nbsp-now
Còn theo lời Thượng nghị sĩ J. W. Fulbright vào năm 1966 thì 'Hòn ngọc Viễn đông' là một 'động đĩ của Mỹ'
http://news.google.com/newspapers?nid=1978&dat=19660505&id=NDgiAAAAIBAJ&sjid=wqsFAAAAIBAJ&pg=2076%2C703979
Phải nói là VN giải phóng SG khỏi tay Mỹ ngụy vì nếu chỉ có miền Bắc thì không thể có khả năng đó.
9. Chiến tranh mà:
Khi có ai đó nhắc đến tội ác Mỹ ngụy thì có nhiều người lại ngụy biện bằng một câu ngắn: 'Chiến tranh mà' để khỏa lấp đánh đồng tất cả. Chiến tranh không tự nó xảy ra cho nên không thể đổ lỗi cho bản thân chiến tranh mà phải truy cứu ai đã gây ra chiến tranh. Nếu bạn đồng ý chiến tranh là tội ác thì phía gây ra chiến tranh đã gây ra tội ác.
VN không có nhu cầu gây chiến tranh với Mỹ và đã không tấn công nước Mỹ trước.
Người VN chỉ muốn bầu cử thống nhất đất nước.
Do đó Mỹ không có bất cứ quyền, lý do gì gây ra chiến tranh ở VN. Chuyện chính trị nội bộ VN phải do người VN giải quyết.
Nhưng Mỹ đã gây ra chiến tranh và tội ác theo sau.
Và chiến tranh có luật của chiến tranh. Bạn không thể giết thường dân vô tội vạ như Mỹ đã làm cho dù trong chiến tranh. Bom đạn không thể phân biệt quân đội hay thường dân. Ném bom, bắn giết một cách bừa bãi, đặt thôn quê nào đó là vùng 'tự do oanh kích', 'giết tất cả những gì biết động đậy' thì đó là tội ác chiến tranh.
10. Đối xử sai lầm đối với ngụy quân ngụy quyền sau ngày giải phóng:
Đối với những người chống cộng đương nhiên 30 tháng 4 không phải là ngày 'giải phóng' vì họ đã mất đi địa vị 'lên voi'. Nhiều triệu người đã phải hy sinh cả mạng sống để VN có hòa bình thống nhất, không còn chém giết nhưng họ lại buồn hận chỉ vì chén cơm bị đá đổ! Buồn hận kiểu này có nên được thông cảm không nhỉ? Họ là vàng còn dân tộc là cỏ rác hay sao?
Bên thua cuộc đã nghĩ ra viễn cảnh và tuyên truyền là sẽ bị trả thù ghê gớm nhưng chuyện đó đã không xảy ra. Họ chỉ bị đi cải tạo. Cải tạo càng lâu thì càng có khả năng đi Mỹ. Có nhiều người còn nuối tiếc rằng mình không được cải tạo đủ lâu để được đi Mỹ!
So sánh với nội chiến Mỹ rồi bảo rằng trường hợp 'bên thắng cuộc' phải đối xử với 'bên thua cuộc' như nội chiến Mỹ là một so sánh khập khễnh. Nội chiến Mỹ là...nội chiến, cuộc chiến ở VN không phải là nội chiến mà là cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ.
Mặc dù vậy sau nội chiến Mỹ, kinh tế một thời giàu có của miền Nam đã bị phá hủy. Thu nhập bình quân giảm xuống còn 40% so với miền Bắc. Tình trạng đó tiếp diễn đến một thời gian dài sau thế kỷ 20.
Sau khi Nhật tấn công Trân Châu Cảng, Mỹ đã nhốt trên 100 ngàn người Nhật cả già trẻ lớn bé vào trại tập trung chỉ vì nghi ngờ họ không trung thành với nước Mỹ.
Luật ở Mỹ cũng phạt nặng thậm chí tử hình ai dám giúp đỡ kẻ thù chống lại nước Mỹ. Nếu có thành phần làm tay sai cho nước khác xâm lược chia cắt nước Mỹ thì tôi bảo đảm sẽ chết không còn dịp chê Mỹ ác!
Trường hợp VN thì sau khi ra tù họ lại được định cư ở một nước giàu nhất, dân chủ tự do nhất TG, con cháu họ ngày nay toàn là công dân Mỹ như vậy còn muốn gì nữa? Còn buồn còn hận gì nữa?!
Loại người này là loại người cực kỳ tham lam ích kỷ làm như mình là bố của cả người Việt và Mỹ vậy. Người đâu tiền đâu mà cứ đổ vào cuộc chiến như thế để họ tiếp tục sướng?!
11. Nếu không giải phóng thì miền Nam cũng như Nam Hàn bây giờ:
Để một nửa giàu và một nửa kia phải đói là lựa chọn tốt hơn VN bây giờ? Có cần thiết phải như vậy không? Đầu óc bạn có còn bình thường không? VN đã trải qua hơn 30 năm chiến tranh, 20 năm cấm vận nhưng bậy giờ cũng đâu đến nỗi nào? Như vậy tại sao bây giờ lại mơ ước một nửa đói để cho một nửa kia được giàu?!
Nếu đã phải giả sử chuyện không có thì sao không nói rằng nếu Mỹ không chen vào chuyện của VN và bán đảo TT thì cả hai nước đều đã độc lập và còn giàu mạnh hơn Nam Hàn bây giờ và không có thù hận chia rẽ?!
Không thể trách Liên xô hay tàu vì hai nước đó đã để yên cho người dân bán đảo TT và VN tự quyết. Mỹ muốn chống cộng thì sang tàu sang LX mà chống. Cộng sản LX/tàu đâu có xâm lược VN hay TT? Nếu Mỹ không trực tiếp can thiệp thì đã không có chiến tranh và đã thống nhất từ lâu. Nếu có chiến tranh chăng nữa thì cũng chóng vánh và không thể gây ra tàn phá thiệt hại chia rẽ hận thù lâu dài như khi Mỹ trực tiếp nhảy vào.
Trường hợp tàu vì là nước lớn nên Mỹ không dám can thiệp sâu, do đó đã cơ bản thống nhất từ 1949 và vì vậy cho dù có áp dụng đường lối kinh tế sai lầm thì vẫn có thể sửa đổi và phát triển mạnh trong suốt hơn 30 năm nay.
Nam Hàn giàu có nhưng với cái giá là phải coi Bắc Hàn là kẻ thù không đội trời chung và nếu tiếp tục chọc sùng Bắc Hàn thì tất cả có thể quay về thời kỳ đồ đá! Tương lai dân tộc không biết đi về đâu khi vì tiền mà phải phục vụ cho ý chí của Mỹ. Có cần phải trả cái giá như thế để giàu không nhỉ?
Lời kết:
Ngụy biện còn nhiều nhưng tạm thế. Biết rằng rất khó nhưng chúng ta hãy cùng hy vọng một ngày nào đó các cương thi chống cộng sẽ được giải bùa mà quên đi thù hận để được nhẹ nhàng tâm trí và thân xác.
Bài viết của anh Meo Duc Meo
Tuesday, February 25, 2014
Loạn Thế Lộ Chân Long hồi thứ 19
Trần Thăng, Trần Thái nhận lệnh Đinh Bộ Lĩnh ở lại giữ đất Bố Khẩu, dù trong suốt mấy năm không có nguy xâm lấn nhưng một mực nghiêm chẩn chẳng lơi là.
Trên phòng tuyến mà xưa Bộ Lĩnh cho xây đắp, Thái, Thăng lại cho lập thêm nhiều đồn chốt, cắt cử người thay nhau canh giữ không ngơi một khắc.
Tin thắng trận mỗi năm đôi ba lần gửi về, thế cờ ngày càng rõ được thua nhưng không lần nào thư không nhắc "phải cẩn thận", Thái, Thăng cũng không cần nhắc, thương hai anh em cứ người giữ thành thì người đốc thúc các đồn chốt không nghỉ ngày nào.
Trần Lãm giao toàn bộ việc quân ở Bố Khẩu cho hai con còn mình trở về với đúng nghĩ một người buôn sành sỏi. Trong là đồng bằng phù sa màu mỡ, ngoài là cửa biển tiện thông thương, neo đậu, đánh bắt, vùng Bố Khẩu nhờ đó mà ngày càng thịnh vượng.
Là một người buôn, Trần Lãm luôn cho rằng việc chọn Đinh Bộ Lĩnh để gửi gắm cơ đồ của mình và hậu vận của các con chính là thương vụ lớn nhất đời mình. Đôi khi ông tự ví mình với Lã Bất Vi đời chiến quốc ở phương Bắc, chỉ khác rằng Bất Vi dựa vào thủ đoạn bất minh mà thành công, còn ông là nhờ con mắt tinh anh nhìn người lại theo đạo mà đi.
Cuối năm 968, Trần Lãm nhuốm bệnh, biết khó mà qua được mới gọi hai con kề cận dặn dò, Trần Thăng, Trần Thái nghe tin bỏ hết việc quân về quỳ sụp bên giường cha.
Trần Lãm thều thào:
- Phụ thân biết hai con chẳng có chổ nào vượt trội hơn người dù rằng trí sức không phải tầm thường nên vẫn luôn dặn dò phải cẩn trọng không chút sơ sẩy, không lập công thì cũng chẳng để lỗi lầm. Nay lỡ như phụ thân có mệnh hệ, lời ấy cũng đem cột trong lòng chớ quên.
Thăng, Thái bây giờ mắt đã chẳng phân biệt được tròng trắng đen, chỉ một màu đỏ mờ đi dưới ngấn nước chực rơi, cả hai chồm lên nắm lấy tay cha, nghẹn đắng chẳng thể nói lời nào.
Trần Lãm lại gượng sức:
- Bộ Lĩnh là chồng của em gái nhưng cũng là chủ tướng của hai con, tài đức Bộ Lĩnh thế nào, được thua trên chiến trận mấy năm qua ra sao chắc hai con đã rõ, vậy nên sức có năm dùng năm, có mười thì dùng cả mười, một lòng trung mà đi theo đừng sai khác.
Đó cũng là lời cuối của Trần Lãm, nói xong nhắm mắt mà đi trong tiếng gào thảm của Thái, Thăng. Hai anh em làm tang cha rất trọng, dân trong vùng chịu ơn khi trước đến viếng rất đông.
Bảy ngày tang xong, Thăng, Thái bàn nhau việc quân trở lại thì bỗng có lính về báo:
- Thưa hai tướng, Lý Khuê vượt sông đánh vào Bố Khẩu ta, hai tướng mau chi viện kẻo phòng tuyến võ mất.
- Chúng có bao nhiêu quân? - Trần Thăng thảng thốt hỏi -
- Thưa, hiện tại chỉ khoảng hai ngàn
- Được ngươi lui đi - Thăng khoát tay ra hiệu, đoạn lại trông qua nhìn Trần Thái.
Trần Thái dường như đang cố trấn tĩnh lại, gương mặt đầy vẻ lo lắng, Thái cũng đưa mắt nhìn qua Thăng.
Nét mặt của Trần Thăng lúc đó cũng không kém phần lo lắng chỉ có điều ẩn trong sự lo lắng ấy có cả một chút phấn khích của người tướng sắp được ra trận.
Trần Thái tuyệt không phải người nhút nhát, cũng tuyệt không phải kẻ chẳng đáng mặt làm tướng, Thái giống Trần Lãm ở chổ chỉ muốn yên không muốn động nhất là chuyện binh đao.
Còn Trần Thăng rõ ràng không phải một tướng kém cỏi, tính Thăng sôi nổi, hoạt bát, thích xông pha. Hồi Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Đinh Thiết, Cao Sơn còn đóng ở Bố Khẩu, Thăng thường cùng các tướng thử võ nghệ, Thăng giỏi cưỡi ngựa, khi đánh trên sới thì chịu kém còn trên mình ngựa thì đến Nguyễn Bồ cũng nhận không bằng.
Thấy anh mình vẻ như chưa có cách hay, Thăng liền cất tiếng:
- Chuyện gấp ta nên quyết cho nhanh, nay em xin lĩnh ba ngàn quân chi viện, còn anh ở lại giữ thành.
- Cũng chỉ còn cách ấy - Thái đáp - Thực lực bọn Lý Khuê thế nào ta còn chưa rõ, đành tùy cơ ứng biến vậy. Em ra đấy chắc thắng thì đánh, không chắc thắng thì đừng đánh cố.
- Em sẽ chú ý, nhưng lỡ có gì sơ sẩy, anh phải cố giữ lấy thành chờ tiếp viện, đừng liều mạng nướng quân lại thêm mất thành hỏng hết việc của chủ tướng.
- Được rồi, điểm binh đi ngay đi.
Cổng thành mở, Trần Thăng dẫn theo ba ngàn quân tiếp viện phòng tuyến, đi được hai phần ba đường thì đã thấy một đạo quân lạ tiến lại.
Quân ấy độ hơn năm ngàn, không hề dùng ngựa, toàn quân vận áo đen, quần đen, phía trước là đội khiên, kế sau là tiễn thủ, ngay sau đó là quân giáp chiến, cứ kế một người cầm kiếm là một kẻ dùng giáo, vẻ khí thế vô cùng.
Trông cờ xí thì rõ là quân Lý Khuê, Trần Thăng thất thần tự nói một minh:
- Phòng tuyến vỡ rồi, gay to.
Thăng lại đưa mắt nhìn vào giữa quân ấy, ở đó có một kẻ ngồi lọng tre, không xa hoa diêm dúa nhưng vẫn có chút ngạo nghễ. Thăng giận tím mặt.
Kẻ đó không cao, không quá mập, gương mặt tròn, râu tóc xồm xoàm, lông mày xếch lên, mắt dữ tợn, đó là Lý Khuê.
Lý Khuê lệnh cho quân mặc đồ đen, đang đên vượt sông để không bị phát hiện, lại dồn quân đánh vào một điểm trên phòng tuyến, lực lượng trên phòng tuyến khi ấy đang mỏng vì vậy chẳng mấy chống mà Khuê phá được.
Hạ được phòng tuyến, Khuê cho quân tiến về thành Bố Khẩu, quân tiếng chẳng bao lâu thì gặp một đạo quân khoảng ba ngàn đang vội vã kéo tới. Đạo quân ấy nửa là kị binh, nửa là quân giáp chiến giáo gươm có đủ, đó là quân Trần Thăng.
Chổ quân Lý Khuê và Trần Thăng gặp nhau là một bãi đất pha cát rộng lớn, phù hợp cho bày trận giáp chiến, và nếu là giáp chiến thì Trần Thăng tự tin nắm phần chắc thắng dù ít quân hơn, tiếc là Khuê lại dùng tiễn binh.
Đọc được thế trận đó, Trần Thăng nhanh chóng lên kế hoạch trong đầu, vội gọi một bộ tướng tín cẩn lại và nói:
- Xem tình thế này quân ta khó lòng chống đỡ, đánh cố chỉ tổ nướng quân. Ngươi mau mang theo 10 người, ngày đêm không nghỉ ra Đại La, chủ tướng Bộ Lĩnh đang ở đấy, xin với chủ tướng cho quân chi viện.
- Thưa rõ.
Quân gọi chi viện vừa đi, Trần Thăng lại gọi một kị binh đến và lệnh:
- Ngươi chạy về thành, nói rõ vệ ở đây, bảo anh ta mở sẵn cổng thành, ta sẽ vừa đánh vừa rút.
- Thưa rõ.
Tiếp đó Thăng ngầm hiệu cho quân giáp chiến ở hậu quân sẵn sàng trở làm tiền quân ngõ hầu cho quân ấy rút trước, còn mình và kị binh cầm chân Lý Khuê và rút sau.
Khi ấy quân Lý Khuê chỉ còn cách trần thăng độ mười trượng. Khuê sai người khiên lọng ra trước, Thăng cũng một mình tế ngựa đến giáp mặt, Thăng nói:
- Bọn ta và ngươi trước nay chưa từng gây oán chuốc thù, cớ làm sao nhân lúc nhà ta có tang mà đem quân đánh lấn?
- Việc binh cốt ở chớp thời cơ, ta không nhân lúc Bố Khẩu đương có tang sự mà lơi là cảnh giác thì biết đánh lúc nào đây? - Lý Khuê vừa cười ha hả vừa đáp -
- Bố Khẩu ta từ lâu đã là đất của Đinh Bộ Lĩnh, thế quân của chủ tướng ta không lẽ ngươi chưa tường hay sao mà gan to bằng trời vậy? - Trần Thăng đe dọa -
- Ha Ha, ta và Đinh Bộ Lĩnh xưa nay cũng có oán thù chi nhưng y lại đem quân đánh hết sứ này lại đánh sứ khác, trước sau gì cũng đánh tới chổ ta, chẳng lẽ bắt ta ôm cây đợi chết?
- Chẳng lẽ ngươi đem quân đánh qua đây thì tránh được sao?
- Ta xem ngươi về võ nghệ chẳng phải hạng tép tôm, nhưng cái trí của ngươi hẳn là không dùng được - Lý Khuê giễu cợt -
- Rửa tai nghe ngươi chỉ giáo đây - Trần Thăng vẫn điềm tĩnh -
- Nay ta lấy Bố Khẩu của ngươi tất Hoa Lư coi như nằm trong túi, khi ấy ngươi nói xem, ta còn sợ Đinh Bộ Lĩnh không ?
- Ngươi tự tin lấy được Bố Khẩu?
- Ta tất nhiên là thế.
Lý Khuê quả thực không hề nói dối, gương mặt toát lên sự tự mãn như là việc ấy đã làm xong rồi. Quân Khuê đông hơn quân Thăng, tiễn binh phát vài loạt mưa tên, quân Thăng khó mà giữ đội hình, khi ấy quân giáp chiến của Khuê lao lên chém giết thì thắng thua coi như đã định.
Khuê đọc trận thế cũng rất nhạy bén, nhưng Khuê nhầm lẫn một chút, đây là đất họ Trần, ở đây Trần Thăng thông thuộc đến từng hạt cát, và cát như chiều lòng người bắt đầu tung mù trời khi Thăng dứt hiệu lệnh: Bày Trận!
Đội khị binh hơn một ngàn quây lại chạy nối nhau theo vòng trong lớn nhỏ, ngựa như đã được huấn luyện từ trước đưa chân đá cát bay loạn trong không trung.
Chẳng mấy chốc hai quân đã không thể nhìn thấy mặt nhau, Lý Khuê thấy tình thế thay đổi, sắc mặt cũng đổi thay, giận dữ thét tiễn thủ bắn tên.
Tên phát ra bay như mưa rào đầu hạ, mưa rơi thấm đất, tên bay vào đám bui không lồ ấy cũng nhất loạt cắm vào đất, tiếng của quân Trần Thăng khi ấy đã không còn.
Nghĩa là quân Trần Thăng đã rút, nếu rút về Thăng, Thái ở mãi trong thành mà giữ tất khó phá, khi ấy quân chi viện của Đinh Bộ Lĩnh kéo đến, kế hoạch đổ bể, e rằng Khuê khó sống sót mà lường hậu quả.
Nghĩ vậy, Khuê thét quân băng qua đám bụi mà đuổi, bộ tướng của Khuê là Lê Khoa, tay phải cầm kiếm, tay trái cũng cầm kiếm dẫn đầu.
Khoa và lính đến hơn một trăm vừa ló ra khỏi đám bụi thì trúng tên cả, người chết kẻ bị thương, Trần Thăng không mang theo tiễn thủ, nhưng trên lưng của các kị binh thì cung tên có đủ.
Bụi ta dần, Lý Khuê đuổi rát tới, bộ tướng tín cẩn nhất chết quá dễ dàng, quân Thăng thì không mảy lấy một sợi lông, dù là lông ngựa, Khuê ngán ngẩm nhìn phía trước, cũng chừng mười trượng, một đám bụi khác lớn không kém. Tiếng chân ngựa nện xuống đất, tiếng thét của kị binh Trần Thăng làm Khuê ong cả đầu, như muỗi vo vo quanh tai mà không cách nào đập được nó.
Không có thời gian nghĩ lâu, Lý Khuê cũng không nghĩ lâu, lệnh cho đội khiên tiến trước quân giáp chiến tiến theo, tiến thủ yểm trợ ngay sau cốt để hạn chế tên của kị binh Trần Thăng, giúp quân giáp chiến có cơ hội tiếp cận.
Quân ấy lại nhắm mắt lao qua đám bụi thứ hai, lần này an toàn, chỉ tiếc là Trần Thăng không còn ở đó, người ngựa đã chạy được khá xa.
Lấy chân người đuổi vó ngựa là điều không thể, nhưng chỉ sau một phút giận dữ, Khuê lại xua quân tiến. Quân Khuê đuổi theo như thể lá khô gió cuốn, không ngơi một khắc nhắm thẳng Bố Khẩu, dù vậy vưa trông thấy thành thì Trần Thăng đã đứng trên cổng thành tự bao giờ, kị binh cuối cùng đã vào, cổng thành đã đóng.
Khuê đến, Thăng trỏ Khuê nói:
- Bây giờ thì sao, ngươi còn đủ tự tin chứ?
Lý Khuê mặt tái mét, mắt đỏ phừng phừng, người run lên nửa vì mệt nửa vì giận, nhưng vẫn cao giọng nói cứng:
- Cũng thế cả thôi, thay vì bắt giết lần lượt, ta xử hai anh em ngươi cùng lúc cũng không sao.
Thăng bật cười khanh khách:
- Ngươi cố gồng mình làm gì, nếu ta mà là ngươi thì đã rút quân cho sớm chợ rồi, quân chi viện của chủ tướng ta không lâu nữa sẽ đến, lương thảo trong thành ta đử dùng cả năm, cung tên có đủ để tặng cho mỗi các ngươi vài tá về dùng, ngươi có cơ hội sao?
Nói rồi Thăng phất tay, nhất loạt cả ngàn tiễn thủ đứng sẵn trên thành, từ đó Thăng lệnh quân chia làm hai đội, thay nhau đứng sẵn trên thành như vậy.
Lý Khuê không nói thêm gì, biết khó công thành nổi nếu không dùng mạo hay, bèn cho quân hạ trại vây lấy thành chờ nghĩ kế.
***
Tại Đại La, Đinh Bộ Lĩnh khi ấy họp các tướng bàn kế để một trận phục hết các sứ còn lại, kế đã bàn xong, ngày xuất quân đã định, thì bỗng đâu có tin từ Bố Khẩu báo về, Trần Lãm đã mất không lâu sau khi ngã bệnh.
Các tướng ai nấy đều tiếc thương, Bộ Lĩnh lại càng đau lòng hơn, Trần Lãm không chỉ là cha vợ, không chỉ là người trao cho Lĩnh cơ hội làm việc lớn, hơn cả, ông là người mà Lĩnh rất tôn trọng cảm phục.
Dù thế, Bộ Lĩnh không mất đi sự bình tĩnh vốn có của mình nhất là cái trực giác của một vị tướng, ngay đêm đó Lĩnh gọi gấp các tướng đến và nói:
- Mười hai sứ, quân ta đã thu phục đến tám, các sứ còn lại hẳn đang ngày đêm lo sợ nhưng chắc chắn chẳng chịu ngồi yên, nay Lãm Công, cha vợ ta mất đi, tất có thể có sứ muốn nhân Bố Khẩu có thang sự mà đem quân đến đánh, Bố Khẩu mất, Hoa Lư cũng khó giữ, hậu quả không lường được. Đó chỉ là chuyện ta lo xa, nhưng không thể không đề phòng, các ngươi nói xem nên như thế nào?
Lưu Cơ ngẫm nghĩ một lát rồi đứng ra nói:
- Nếu chuyện đó xảy ra, với bản tính thận trọng của Trần Thái hẳn sẽ cố thủ trong thành rồi xin chi viện, chi băng ta gửi quân đến trước, quân vây thành tất bị bất ngờ mà tháo chạy. Lỡ như không có việc ấy, thì quân chi viện hợp với quân Bố Khẩu vượt sông đánh các sứ cũng không hỏng kế hoạch đã định.
- Nói hay lắm Lưu Cơ, ta cũng có sở ý đó, chỉ đang phân phân khả năng lệnh quân Đăng Châu hay Hoa Lư chi viện có tốt hơn không, nhưng xem chừng cách này là khả dĩ nhất.
Trịnh Tú khi ấy hỏi:
- Phải chẳng chủ tướng sợ quân Đăng Châu hay Hoa Lư chi viện thì lại trúng kế ? Nếu thực có kế ấy thì chi bằng ta nên xuất quân vượt sông sớm hơn keo đêm dài nhiều mộng?
- Phải lắm! Nay ta lệnh cho Lưu Cơ điểm năm ngàn quân kéo đến Bố Khẩu, các tướng còn lại, điểm quân, chuẩn bị binh khi và lương thảo, hai ngày nữa thì xuất quân.
- Rõ - các tướng đồng thanh -
Lưu Cơ dẫn quân chi viện Bố Khẩu, hai ngày hành quân không ngơi nghỉ thì đến đất Đăng Châu của Phậm Bạch Hổ.
Phạm Bạch Hổ từ lúc phá xong sứ Nguyễn Siêu thì theo lệnh Bộ Lĩnh ở lại giữ đất Đăng Châu. Một hôm, Bach Hổ dẫn quân đi tuần, bỗng phát hiện một toán người ngựa đến hơn một chục.
Toán người ấy dường như đang có việc cần kíp, trông qua có thể đoán là đã chạy hơn một ngày không nghỉ, người ngựa lấm lem bùn đất, người thì tóc rối như tổ quạ, ai nây hốc hác luôn miệng quát tháo, ngựa thì vừa chạy vừa phát ra những tiếng phì phì mệt mỏi.
Bạch Hổ lẩm bẩm : "đây chẳng phải quân của Trần Thăng sao, chẳng lẽ Bố Khẩu gặp chuyện?", kế đó liền tế ngựa đến chắn đường. Toán người kia đang cắm đầu chạy thấy bị chắn đường bất ngờ vội vã kéo cương, ngựa cũng bất ngờ, kiễng hai chân lên dừng lại.
Người cầm đầu toán người ấy nhận ra Bạch Hổ vội xuống Ngựa bái chào, rồi thưa:
- Lý Khuê nhân lúc Bố Khẩu có tang sự, kéo quân sang đánh, Thăng tướng quân sai Đào thuấn tôi về Đại La xin chi viện, nhờ Phạm tướng quân nhường đường gấp, việc đang gấp.
- Ngươi kém trí, tướng của ngươi cũng lại thế, Đăng Châu ta sát bên đây sao không gọi chi viện, lại nhọc lòng về đến Đại La, lỡ hỏng việc thì sao?
- Nhưng ... - Đào Thuấn ngập ngừng -
- Nhưng nhịn gì nữa, mau theo ta về thành điểm binh - Bạch Hổ quát -
Đào Thuấn đành theo Bạch Hổ về thành Đăng Châu, trong lòng dẫu còn chút không yên, nhưng vẫn khấp khởi mừng.
Cả quân Bố Khẩu lẫn Đăng Châu kể từ khi theo về Đinh Bộ Lĩnh thì đều áp dụng cách tổ chức quân đội của Lĩnh, theo đó cứ mười người thì lập thành một đội, có một đội trưởng, cứ mười đội như thế lại có một tiểu tướng đứng đầu, lại thêm cứ một chủng quân lại do một bộ tướng nắm giữ nên việc điểm binh trở nên rất nhanh.
Điểm xong ba ngàn quân, Phạm Bạch Hổ sai Đào Thuấn hướng đạo vội vàng kéo đi, quân vừa rời khỏi thành độ 3 dặm thì phát hiện một đạo quân tầm năm ngàn kéo tới, quân ấy vội vàng không kém.
Nhìn cái cách giữ đội hình dù đang hành quân gấp ấy, Bạch Hổ đoán ngay là quân Đinh Bộ Lĩnh, liền lệnh cho tướng sỹ dừng lại đợi, quân ấy gần tới mới biết người dẫn đầu là Lưu Cơ.
Lưu Cơ cũng nhận ra Bach Hổ, cái dáng cưỡi ngựa ưỡn ngực lên thì không lạc đi đâu được, lại thấy Đào Thuấn đứng kế bên thì tám chín phần đã hiểu điều gì đang xảy ra rồi:
- Phạm tướng quân gượm đã - Lưu Cơ gọi -
Bạch Hổ nhạy bén không kém, hỏi ngay:
- Lưu Cơ, ngươi cũng chi viện Bố Khẩu đấy sao?
- Chủ tướng hay tin Lãm Công mất, lo rằng có sứ nhân có đánh qua nên sai tôi mang quân đi, chẳng ngờ có sự ấy thật. Không biết tình hình quân địch thế nào, Phạm tướng quân có kế sách gì chưa?
Đào Thuấn nói xen vào:
- Sứ ấy là Lý Khuê, khoảng 5 ngàn quân, gồm nửa tiễn thủ và nửa quân giáp chiến.
Bạch Hổ nói thêm:
- Ta cũng vưa hay tin, cấp kíp nên chưa có chủ ý gì hay cả.
- Nay tôi hợp quân với ngài tiến qua, quân trong thành đánh ra tất phá được, có điều ... - Lưu Cơ suy tư -
- Có điều gì ? - Bạch Hổ hỏi vội -
- Nếu ta đánh thốc vào sẽ có một trận ác chiến, nhiều người sẽ chết, đó là chổ tối kị của chủ tướng. Nếu có kế bắt được tướng hàng được binh thì tốt hơn.
Cả Bạch Hổ lẫn Lưu Cơ nhất thời chưa nghĩ ra được kế lưỡng tiện, đang trầm ngâm thì bỗng đâu có lính dẫn một người bị trói đến trước mặt hai người.
Người đó trên dưới quần áo đều một màu đen, mặt mày lấm lét, tỏ vẻ run sợ nhưng thủy chung không nói một lời, Đào Thuấn quan sát một lúc rồi lên tiếng:
- Hắn đích thị là quân do thám của Lý Khuê rồi.
- Quan do thám của Lý Khuê à? Hừm !
Lưu Cơ vừa tự hỏi vừa ngẫm nghĩ, đoạn quay qua mấy người lính, lệnh:
- Các ngươi giải thả cho hắn về đi.
Bạch Hổ đợi lính giải tên do thám đi rồi mới bày chổ nghi:
- Sao người không tra khảo rồi hẵng thả?
Lưu Cơ chậm rãi trả lời:
- Thế quân Lý Khuê ra sao Đào Thuấn đã nắm được, tra khảo cũng chẳng có thêm gì.
Bach Hổ gật đầu cho là phải.
Lưu Cơ nói tiếp:
- Ở đây có sự không ổn, nếu Lý Khuê vây Bố Khẩu rồi mới sai quân đi thám thính thì tên trinh sát ấy không thể đến đây nhanh như thế được, bởi Đào Thuấn đã đi hết sức mà giờ mới tới, chỉ có thể là trước khi đánh vào Bố Khẩu, Khuê đã sai người đi rồi.
- Ý ngươi là sao? - Bach Hổ hỏi, Đào Thuấn cũng nhìn Lưu Cơ chờ câu trả lời.
- Hắn rõ sức quân ta nên mới đem quân đánh trước hòng tìm đường sống về sau, nay việc đánh nhanh thắng nhanh Bố Khẩu bất thành, tất đoán biết quân chi viện sớm muộn cũng đến mà vẫn vây lấy Bố Khẩu, chứng tỏ mục tiêu của hắn không phải Bố Khẩu mà chính là quân chi viện.
- Năm ngàn quân, đối phó quân chi viện và cả quân trong thành ư?
Đến lượt Bạch Hổ tự hỏi vừa suy tư, đoạn như chợt hiểu ra liền gọi một bộ tướng là Đỗ Giang đến và lệnh:
- Ngươi dẫn theo mười người giả làm người đánh cá, xuôi thuyền thám thính xem phía bên kia bờ có quân thanh viện của Lý Khuê hay không !
- Rõ thưa tướng quân!
Y theo lệnh ấy, Đỗ Giang vờ làm người đánh cá, theo sông xuôi dòng, đến chổ gần Bố Khẩu quả nhiên phát hiện phía bên kia bờ có quân đang đóng chờ tiếp ứng, thuyền bè đã sẵn sàng, quân ấy có đến năm ngàn, trông qua trang phục thì chính là quân Nguyễn Thủ Tiệp
Subscribe to:
Posts (Atom)
