Vừa rồi đài truyền hình VTV phát một phóng sự nêu lên một số sự thật về các nhà ngoại cảm, nhanh chóng lan truyền, tạo nên một cú sốc đối với dư luận nói chung và những người hằng tin tưởng nói riêng.
Xét thấy, thói quen của dư luận xưa nay, thường vì những cụm từ như "vạch trần sự thật", "phanh phui sự giả dối", ... mà đi đến sự phủ định toàn bộ những gì liên quan đã diễn ra.
Ví như trong việc này, từ chổ nêu lên "một số sự thật" của phóng sự ấy mà cho rằng toàn bộ những cuộc tìm kiếm mộ liệt sỹ đếu là lừa đảo, từ chổ một số nhà ngoại cảm dùng thủ đoạn để qua mặt người khác mà cho rằng toàn bộ các nhà ngoại cảm khác đều như vậy.
Lại nữa, có những sự huyền bí được xây dựng dựa trên sự thật hoặc những hoài nghi chưa thể phủ định mà tạo được lòng tin, sự huyền bí giả dối khi bị phanh phui, người ta thường theo đó mà phủ định luôn phần sự thật nền móng hoặc những hoài nghi chưa thể phủ định ấy.
Ví như trong việc này, từ chổ "một số sự thật" được phơi bày trong phóng sự của VTV người ta có thể theo nước đẩy thuyền mà phủ định luôn sự tồn tại của thần thức con người sau khi chết.
Vì những lẽ như vậy, tôi viết bài này với mong muốn xác định những gì không thể hoặc chưa thể phủ định, trên cơ sở tri thức về Phật Giáo, khoa học và từ Phật Giáo, khoa học của bản thân. Chổ đến của bài viết này là những người có lòng tin với Phật Giáo và những người coi khoa học là kim chỉ nam trong nhận thức.
Anh Xtanh từng nói : "Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trên trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng được các điều kiện đó. Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo không cần phải từ bỏ quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học "
Nguyên văn: The religion of the future will be a cosmic religion. It should transcend personal God and avoid dogma and theology. Covering both the natural and the spiritual, it should be based on a religious sense arising from the experience of all things natural and spiritual as a meaningful unity. Buddhism answers this description. If there is any religion that would cope with modern scientific needs, it would be Buddhism. Buddhism requires no revision to keep it up to date with recent scientific finding. Buddhism need no surrender its view to science, because it embrances science as well as goes beyond science - Trích từ "Collected famous quotes from Albert"
Trên tinh thần "Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khoa học" những kiến giải sau đây sẽ là sự thật đối với người tín Phật, và là "những hoài nghi chưa thể phủ định" đối với người chỉ hài lòng với khoa học thực nghiệm.
Phật Giáo nói : Con người được cầu thành từ thất đại : đất, nước, gió, lửa, kiến đại, không đại và thức đại. Đất, nước, gió, lửa hợp lại là Thân, kiến đại, không đại, thức đại hợp lại là Tâm. Sau khi chết, thân tứ đại rã ra trở về với đất, nước, gió, lửa, còn phần Tâm thì thường còn, lúc này gọi là Thần Thức.
Trên cơ sở khoa học:Điều này trong thực tế được minh chứng rất nhiều do những người chết lâm sàng rồi sống lại kể: khi thần thức của họ ra khỏi cơ thể, họ nhìn thấy tất cả mọi người xung quanh đang xem họ, cấp cứu thân xác họ, điều này khẳng định sự biết vẫn còn nguyên khi hồn lìa khỏi xác.
Một người chết lâm sàn, chị Marline, kể lại : “Tôi bỗng cảm thấy không còn đau đớn trong lồng ngực nữa. Người tôi nhẹ tênh, nổi phình lên trần nhà, phía sau các chụp đèn phủ đầy bụi. Tôi phát bực mình, sao phòng mổ lại bẩn thỉu thế! Phía dưới, các bác sĩ đang loay hoay quanh một xác chết. Phải mất một lúc tôi mới hiểu, đó chính là cái xác của tôi... ”
Năm 1910, Walter Kilner, kỹ thuật viên tại Bệnh viện St Thomas’s (Anh) tuyên bố đã chế tạo được một bộ kính lọc đặc biệt, có thể cho phép quan sát được trường năng lượng của con người. Patrick O’Donnell, một chuyên gia X-quang tại Chicago (Mỹ) đã sử dụng thiết bị này để quan sát một người sắp chết.
Khi bác sĩ tuyên bố bệnh nhân qua đời, O’Donnell thấy trường năng lượng tỏa ra xung quanh thi thể như một vầng sáng và biến mất ngay sau đó. Tiếp tục quan sát thi thể cũng không thể phát hiện ra năng lượng nữa. Trường năng lượng của cơ thể vốn có hào quang (uara), khi thể xác không còn hào quang, không còn vầng sáng có nghĩa là thể xác đã mất đi trường năng lượng, năng lượng mất đi này chính là Thần Thức.
Cho đến nay, các nhà khoa học phương Tây vẫn chưa thống nhất: Vì sao người ta có thể nhìn được sau khi đã chết? Một số ý kiến cho rằng, đó là vì não bộ vẫn còn sống sau khi tim ngừng đập. Nhưng vì không được cung cấp ôxy nên người bệnh bị rơi vào trạng thái mê sảng. Nhiều người khác lại khẳng định, đó là kết quả của hiệu ứng tràn hoóc môn, xảy ra khi cơ thể giải phóng tất cả các hoóc môn dự trữ vào thời điểm tim ngừng đập. Vài nhóm khoa học khác lại cho rằng ý thức vẫn tiếp tục sống, ngay cả khi cơ sở vật chất của nó là não bộ đã chết.
Như vậy, dù khoa học chưa thể có lời lý giải căn kẽ, nhưng bước đầu đã ghi nhận có thể có sự tồn tại của thần thức. Đây là sự "hoài nghi chưa thể phủ định" thứ nhất.
Phật Giáo nói: Tâm người gồm Chân Tâm (Phật Tánh) và Vọng Tâm, theo chổ hiểu tạm thời của mình thì khi kiến đại hợp với không đại ấy là Chân Tâm, khi kiến đại hợp với thức đại ấy là Vọng Tâm.
Kiên đại tức sự thấy, nghe, ngửi, xúc chạm ..., Thức đại tức Thọ (cảm nhận), Tưởng (phân biệt), Hành (quyết định), Thức (nhận thức), khi kiến đại hợp với thức đại thì sẽ sinh ra cảm giác yêu, ghét, tốt, xấu ... từ đó mà sinh tâm muốn lấy hoặc bỏ, từ tâm muốn lấy bỏ mà sinh ra sân hận ... các trạng thái tâm lý và nhận thức khác, Phật Giáo gọi đó là vô minh (Vọng Tâm).
Vì vô minh nên chúng sinh tạo nghiệp, theo lý nhân quả, tạo nghiệp nhân ắt có nghiệp báo, vì thế mà chúng sinh luân hồi trong lục đạo. Lục đạo tức Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Súc Sinh, Người, A tu la (thần), Trời, con người sau khi chết, thần thức sẽ theo nghiệp dẫn và duyên hợp mà đầu thai vào các cõi.
Sau khi chết, thần thức thường trải qua giai đoạn trung gian, chuyển tiếp trước khi tái sanh. Khoảng thời gian cho giai đoạn mang thân trung ấm này tối đa là 49 ngày, ngoại trừ hai trường hợp cực thiện và cực ác thì tái sanh ngay lập tức vào cõi Trời hay cõi Địa ngục. Tuy nhiên, còn có trường hợp đặc biệt của thân trung ấm do chết đột ngột (đột tử) và chết một cách oan ức thì thần thức hoặc “không biết” mình đã chết, hoặc do oán hận ngút ngàn mà cận tử nghiệp bám chặt, chấp thủ kiên cố vào trạng huống “hiện tại”, được gọi là các “oan hồn”, cần phải khai thị (giải nghiệp) mới có thể chuyển kiếp, tái sanh.
Mắt thường của chúng ta, chỉ thấy được cõi Người và Súc Sanh chứ không thấy được các cõi khác, theo chổ hiểu tạm thời của mình các cõi kia thuộc vào một chiều không gian khác nên không thể thấy, vì vậy những câu chuyện về việc thấy ma, thấy quỷ ... có hình có tướng thường Phật Giáo không chấp nhận.
Phật giáo không hề có quan niệm về một dạng sống được gọi là “cõi âm”. Thế giới quan của Phật giáo là vô lượng vô biên thế giới, hằng hà sa số thế giới, trong đó có thế giới Ta bà gồm Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới. Hai cõi Sắc và Vô sắc là cõi giới của thiền định. Cõi Dục gồm lục đạo là các loài Trời, A tu la, Người, Ngạ quỷ, Súc sanh và Địa ngục. Cõi âm hoặc âm phủ chỉ là quan niệm dân gian dùng để chỉ thế giới của người chết đối lập với cõi người sống (cõi dương).
Trên cơ sở khoa học và thực tiễn : Năm 20 tuổi, cô gái Elina Markand (người Đức) bị tai nạn. Khi tỉnh dậy, Elina bỗng nói tiếng Italy rất thông thạo, mặc dù trước đó cô chưa từng học một ngoại ngữ nào. Cô còn tự nhận mình là Rozetta Caste Liani, công dân Italy, và yêu cầu được trở về thăm quê hương.
Về tới "nhà", Elina mới biết rằng người có tên Rozetta Caste đã mất từ năm 1917. Đón cô là một bà già lụ khụ, xưng là con gái của Rozetta Caste. Elina chỉ tay vào bà già, nói: “Đây là Fransa, con gái tôi!”. Lúc ấy, tất cả mọi người đều giật mình, vì người đàn bà này quả thực tên là Fransa, đúng như Elina gọi.
Câu chuyện của Elina Markand đã trở thành đề tài đầy hấp dẫn cho giới khoa học. Thực tế, trong lịch sử từng có không ít trường hợp tương tự, và hiện tượng “nhớ về quá khứ” không nhất thiết phải bắt đầu từ một chấn thương nào đó, như trường hợp của Elina Markand.
Một số nhà khoa học đã thử đưa ra một lý thuyết giải thích hiện tượng trên với khái niệm "trí nhớ gene": Nếu các vùng "ngủ" trong ADN bị kích thích, con người có thể "trở về tiền kiếp". Họ bỗng nhớ lại gốc gác La Mã hoặc Ai Cập từ xa xưa. Cũng do ảnh hưởng bởi tiền kiếp mà nhiều người có thói quen xoa râu quai nón, mặc dù trên mặt không hề có râu. Người khác lại có thói quen nhấc vạt áo vét, y như động tác vén váy dài đang mặc khi vượt qua vũng nước.
Lại có một số nhà vật lý và sinh học đưa ra cách giải thích vấn đề trên bằng “kết cấu phách”. "Phách" ở đây tất nhiên không phải là "phách" trong âm nhạc, mà là một khái niệm chỉ "phần bất biến" của con người, còn được hiểu là "phần năng lượng tách ra dưới dạng sóng". Khi người chết, “phách” liền tan vào vũ trụ. Vì thế, “phách” có thể hiểu là một loại “trường sóng hạt cơ bản nhẹ”, hoặc là “tập hợp những năng lượng thông tin cá thể”.
Như vậy, tuy khoa học chưa giải thích thấu đáo nhưng cũng đã ghi nhận hiện tượng nhớ về tiền kiếp, đây là "sự hoài nghi chưa thể phủ định" thứ 2.
Phật Giáo nói : Khi tâm người thanh tịnh, các phiền não được dứt bỏ, Vọng Tâm không còn thì sẽ trở về với Chân Tâm, như đã nói theo chổ hiểu tạm thời của mình thì Chân Tâm là sự khế hợp giữa kiến đại và không đại.
Trong kinh Lăng Nghiêm có nói "nhất tinh minh sinh lục hòa hợp", "nhất tinh minh" ở đây, theo chổ hiểu của mình, chính là không đại, Phật Giáo mô tả đó là thể rỗng rang không tướng mạo "đã không tướng mạo nào có lớn nhỏ. Không lớn nhỏ nào có bờ mé nên không trong ngoài, không trong ngoài nên không gần xa, không gần xa nên không này kia, không này kia nên không đi đến, không đi đến nên không sanh tử, không sanh tử nên không xưa nay, không xưa nay nên không mê ngộ, không mê ngộ nên không phàm thánh, không phàm thánh nên không nhiễm tịnh, không nhiễm tịnh nên không phải quấy, không phải quấy nên tất cả danh ngôn đều không thật có. Cả thảy đều không như vậy, thì tất cả căn cảnh, tất cả vọng niệm, cho đến muôn ngàn tướng mạo, muôn ngàn danh ngôn đều không thật có. Ðấy há không phải là cái không-tịch xưa nay, cái không vật xưa nay sao?" - Thiền sư Phổ Chiếu -
"Lục hòa hợp" ở đây chính là kiến đại, gồm có tánh thấy, tánh nghe, tánh ngửi, tánh nếm, tánh xúc chạm, tánh biết. Các tánh này tùy căn cơ mỗi người mà mờ tỏ khác nhau, tâm càng thành tịnh thì tánh càng tỏ, người tu hành khi dứt Vọng Tâm sẽ chứng được Lục Thông (thật ra chính là sự hiển bày một cách rõ nét nhất của các tánh) trong đó có Túc Mạng Thông (nhớ lại được tiền kiếp), Thiên Nhĩ Thông (thấy được mọi cảnh sắc), Thiên Nhãn Thông (nghe được mọi âm thanh) ...
Khi Phật còn tại thế, Ngài nhìn trong bát nước thấy vô số vi trùng, trong kinh Hán tạng có câu "Phật quán nhất bát thủy, bát vạn tứ thiên trùng" Nghĩa là Phật nhìn trong bát nước thấy tám muôn ngàn (84000 - con số tượng trưng) vi trùng. Ngày nay nhờ kính hiển vi, các nhà khoa học thấy trong nước có nhiều vi trùng.
Lại nữa, Phật nhìn thấy trong thân người thấy vô số vi trùng, trong Hán tạng có câu "nhơn thân chi nội hữu vô số vi trùng tại trung nhi trú" Nghĩa là trong thân người có vô số vi trùng đang trú ẩn bên trong. Ðiều này ngày nay chúng ta chỉ cần có chút ít kiến thức khoa học là không còn nghi ngờ gì nữa.
Ðức Phật ra đời trên sáu thế kỷ trước công nguyên, còn các nhà khoa học được biết đến, mới có từ thế kỷ thứ 18 sau công nguyên. Thế mà ở thời kỳ ấy, đức Phật nhìn trong vũ trụ thấy thế giới không thể kể hết, nên trong kinh thuộc Hán tạng có những câu "Hằng hà sa số thế giới", nghĩa là thế giới nhiều như cát sông Hằng (Ganges), hoặc câu "vi trần sát" nghĩa là cõi nước (sát) nhiều như nhũng hạt vi trần. Ðến nay các nhà thiên văn học nhờ viễn vọng kính nhìn thấy trong bầu hư không có không biết cơ man là thế giới. Vô số ngôi sao lấp lánh hiện trên nền trời trong lúc ban đêm, mà mắt chúng ta nhìn thấy được; là những hành tinh (thế giới), còn không biết có bao nhiêu hành tinh khác quá xa mắt không thể nhìn thấy được. Chính đây là bằng chứng cụ thể, nhờ khoa học giúp chúng ta hiểu được lời Phật dậy cách đây trên 25 thế kỷ:
Lại nữa, có lần Ðức Phật cùng các thầy tỳ kheo đi vào rừng, nhìn thấy những lá rơi lả tả và những lá vàng uá sắp về cành, đồng thời có nhũng chòi non vừa nẩy lộc và những mầm vừa nhú khỏi vỏ cây, Ngài dạy các Tỳ Kheo: Thế giới đang hoại, sắp hoại và đang thành cũng như lá cây trong rừng đang rụng, sắp rụng và đang nẩy chồi, sắp nẩy chồi".Vì thế, đức Phật thường dạy thế giới có bốn thời :Thành, trụ, hoại, không." Ngày nay các nhà khoa học cũng thừa nhận thế giới phải trải qua bốn thời kỳ như thế. Ðây là cái nhìn thích hợp giữa Phật học và khoa học mà cách cách nhau thời gian qúa xa.
Những gì Phật thấy biết là nhờ Thiên Nhãn Thông vậy. Đối với giới khoa học, Thiếu tướng Chu Phác, Chủ nhiệm Bộ môn Cận tâm lý Trung tâm Nghiên cứu tiềm năng con người, khá am tường Phật giáo khi nhận định: “Việc ‘thấy’ của các nhà ngoại cảm xét dưới góc độ khoa học hiện đại thực ra là hiện tượng Thiên nhãn thông, một trong mười lợi ích của thiền định”.
Quay trở lại vấn đề Lục Thông, người có công phu tu hành đoạn trừ vọng tâm, chứng được Lục Thông có thể thấy được các cõi mà mắt thường không thể thấy ( Địa Ngục, Ngạ Quỷ, Atula, Trời), thế thì không loại trừ khả năng người bình thường có thể nhớ được tiền kiếp, thấy được các cõi khác như chuyện một số người nhớ lại được tiền kiếp hay chết lâm sàn hồn lìa khỏi xác kể trên, nhưng chắc chắn là rất hi hữu.
Hi hữu vì sao? Vì ngay cả Đức Phật cũng cần đến hơn 6 năm tha phương tìm đạo, tu khổ hạnh rồi thiền định dưới cội bồ đề mới chứng được lục thông, những người căn cơ kém thì phải mất thời gian lâu hơn nữa, dụng công phu nhiều hơn nữa, thậm chí là phải qua rất nhiều kiếp mới chứng ngộ được. Huống là người thường mong tự có.
Lại nữa, như phần trên có kiến giải, thì hi hữu đối với những "nhà ngoại cảm" một phần nữa là vì họ chỉ có thể giao cảm được với thân trung ấm và vong hồn, tức thần thức chưa đầu thai (còn nhớ được chuyện khi còn sống). Vì các nhà ngoại cảm chưa thành tựu Đại định (tam muội) nên năng lực “thấy” của họ thường chập chờn. Tùy thuộc vào cấp độ định tâm hay trạng thái tâm của họ khi làm việc mà “thấy mờ hoặc tỏ” khác nhau, phải điều chỉnh nhiều lần mới tìm ra vị trí chính xác của hài cốt.
Năng lực thấy rõ không có gì ngăn ngại này của các nhà ngoại cảm còn được vận dụng để tìm kiếm khoáng sản, thăm dò lòng đất (ngành mỏ-địa chất), khả năng khám, chữa bệnh (ngành y khoa) v.v… hiện đang được nhiều quốc gia trên thế giới nghiên cứu, khai thác và ứng dụng (tức đã có ghi nhận khả năng ngoại cảm).
Đối với khoa học, đây là "sự hoài nghi chưa thể phủ định" thứ 3.
[Ngoài lề một chút, đến đoạn kiến giải trên, có lẽ nhiều bạn thắc mắc rằng sao không thấy các thiền sư, các bậc tu hành đắc đạo trong Phật Giáo dùng thần thông, lý do là Đạo Phật trọng về giác ngộ giải thoát, thần thông không phải là mục đích tu hành cuối cùng, người đắc được thần thông mà chưa chứng ngộ quả Phật mà dụng thần thông ắt sẽ theo đó mà dãi đãi để vọng tâm trỗi dậy.]
Tạm kết luận
Đối với người tín Phật, chúng ta biết rằng sau khi chết thần thức con người vẫn còn có thể đầu thai hoặc chưa, những bậc tu hành chứng được thần thông (có được tột cùng khả năng của các tánh) sẽ thấy được thần thức, hi hữu có thể có người giao cảm được với thần thức người đã chết. Đây là sự thật bất khả tư nghì khi chúng ta đã phát lòng tin nơi Phật.
Đối với người trọng khoa học thực nghiệm, có 3 chổ "hoài nghi chưa thể phủ định" (tức có ghi nhận hiện tượng mà chưa khẳng định, phủ định hay giải thích triệt để hiện tượng) được chỉ ra như vậy thì chúng ta chưa vội phủ định, đó là tinh thần khoa học vậy.
Về vụ việc các nhà ngoại cảm, khả năng "ngoại cảm" ấy như đã nói là rất hi hữu, việc thời gian qua "nở rộ" nhiều người có khả năng "ngoại cảm" như thế tất nhiên sẽ có dấu hỏi cần đặt ra, phóng sự của VTV phần nào đó giải đáp được câu hỏi ấy trả sự thật về cho từ "hi hữu".
Nói thế nghĩa là chúng ta không phủ định toàn bộ những cuộc tìm kiếm mộ liệt sỹ, không phủ định toàn bộ các "nhà ngoại cảm" vậy.
Showing posts with label Phật học. Show all posts
Showing posts with label Phật học. Show all posts
Saturday, October 26, 2013
Friday, October 18, 2013
Đừng cầu Phật !
Cầu Phật ở đây có 2: Thứ nhất là nhiều người tìm đến Phật để cầu danh, lợi, duyên (chồng vợ), tự (con), an, xem ngày tháng, xin quẻ ... vân vân và vân vân. Thứ 2 là việc nhiều người tu cầu Phật để mình được đắc quả vị trong sự tu tập.
Nói ĐỪNG cả hai món ấy bởi cả 2 đều là mê, là vô minh không đúng tinh thần Đạo Phật.
Quay trở về lịch sử, Việt Nam tuy có tông phái Đạo Phật riêng, nhưng trước đó có là nhờ ngoại truyền. Người Ấn Độ theo đường biển truyền đạo trước tiên, thời kỳ này, người Việt gọi Phật là Bụt (nói trại từ tiếng Budda), người Việt lúc ấy quán Bụt như một vị tiên, tâm từ thường giúp người bất hạnh, nghèo khổ, Bụt xuất hiện trong nhiều chuyện cổ tích như Tấm Cám ...
Sau đó, thời Trần, người Trung Quốc qua miền Bắc Việt Nam truyền đạo, Budda trong tiếng Hoa đọc là Phất người Việt đọc trại đi thành Phật. Ban đầu người ta dùng cả tiếng Bụt lẫn Phật, bây giờ chỉ còn dùng tiếng Phật.
Về chiều dọc, Đạo Phật tồn tại đã hơn 2500 năm, về chiều rộng thì có nhiều tông phái nhưng chung nhất là Nam Tông và Bắc Tông hay còn gọi là Tiểu Thừa, Đại Thừa, tuy nhiên nói Đại, Tiểu là chấp lớn nhỏ, trọng khinh nên thời nay đổi thành hệ Nguyên Thủy và hệ Phát Triển.
Hệ Nguyên Thủy trên tinh thần quay về hay chấp vào nguyên bản lúc khởi đầu của Phật Giáo, hệ Phát Triển trên tinh thần tùy duyên, nên khi truyền giáo tùy chổ mà dung hòa cả tín ngưỡng địa phương vào chùa. Lại nữa, thêm vào phần tác động của những biến đổi lịch sử dân tộc mà Đạo Phật bị phiên nhiễm nhiều tín ngưỡng khác nhau, phần nào đánh mất cái thuần túy của Đạo Phật.
Để ý thấy nhiều ngôi chua ở Việt Nam hiện nay thờ cả Quan Công, Mẫu, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu ..., lại nữa, người tới chùa thường là để cầu danh, lợi, tài, thọ, sức, tự, an, xem ngày, xin xăm ... như đã nói, đó phần nhiều bởi sự phiên nhiễm của những tín ngưỡng khác vào Phật Giáo, chổ truyền đạo không đúng tinh thần thuần túy Đạo Phật và cũng bởi chổ mê tín, chổ chưa hiểu thấu đáo Đạo Phật của người đời.
Trước hết, Budda tiếng Ấn nghĩa là giác ngộ, Đạo Phật ấy là đạo giác ngộ, đã là đạo giác ngộ tất nhiên không chấp nhận bất cứ một niềm tin sai lầm, sai lẽ thật nào.
Người Phật Tử tại gia hay người xuất gia, trước đều đã quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), đã quy y Phật, Pháp, Tăng tất nhiên không thờ và không quy y nơi thần thánh tà, ngoại nào khác. Đó là chổ thứ nhất.
Tâm Phật là Tâm Đại Bi, thế nào là Đại Bi phải hiểu cho thấu triệt, Phật trước vì thấu căn cơ chúng sanh có chổ sai khác mà bày phương tiện có thứ lớp để giáo hóa chúng sanh, trong số hàng ngàn pháp môn có pháp Bố Thí.
Bố Thí gồm Tài Thí (của cải, sức lực), Pháp Thí (chia sẻ chánh Pháp), Vô úy thí (mang lại sự không sợ hãi), Bố Thí là phương tiện để người tu thực hành buông xả, phát tâm bồ đề, tuy nhiên Bố Thí chỉ là bề nổi của Đại Bi.
Đại Bi nơi Phật là lòng thương bình đẳng tất thảy chúng sanh, Phật không thương chúng sanh vì nghèo, vì bất hạnh, vì gặp khổ nạn, bởi Ngài thấu rõ những cái đó đều do nghiệp dẫn, Phật thương chúng sanh vì cái vô minh của chúng sanh, vì vậy mà bày phương tiện giáo hóa phổ độ, chỉ cho con đường giác ngộ. Cái thương bình đẳng, giàu cũng như nghèo, nam cũng như nữ ấy là bởi chúng sanh đều vô minh, bởi chúng sanh đều có Phật Tánh mà lãng quên nó. Vì vậy, tìm đến Phật, Pháp, Tăng để tiến tu cầu giải thoát, giác ngộ thì mới đúng tinh thần Đạo Phật. Đây là chổ thứ 2.
Phật tuyệt đối không phải là đấng Tối Cao có quyền sinh sát, tạo diệt trong tay, Phật đơn giản là người Giác Ngộ thấu triệt nhân sinh. Khi Ngài thiền 49 ngay dưới cội Bồ Đề mà chứng đạo, chứng được Lục Thông (Lục thần thông) nhưng thần thông này thuộc về cái hiểu biết, chứ chẳng thuộc về phép thuật, biến hóa như Tề Thiên trong phim.
Từ Thiên Nhãn thông, Túc Mạng thông, ..., Lậu Tận Thông đều là những cái thông suốt của trí tuệ, ví như nhờ có Thiên Nhãn thông mà Phật biết được trong nước có vi trùng (điều mà vài ngàn năm sau khoa học mới chứng thực), biết được thân người cấu thành từ tế bào, biết được vũ trụ bao la có nhiều hành tinh với hình thể khác nhau (điều mà đến thời cận đại gần đây chúng ta mới biết) ... . Vì Phật chẳng phải kiểu thần thánh, chúa như chúng ta hiểu, nên đừng cầu Phật dùng phép biến hóa giúp đỡ. Đây là chổ thứ 3.
Giáo lý Phật Giáo có 3, ấy là Kinh, Luật, Luận (gọi là Tam Tạng) thảy hết đều là phương tiện Đức Phật bày ra để chỉ cho chúng sanh con đường Giải Thoát, vì vậy đọc Kinh phải biết rằng Kinh là phương tiện, chổ cứu kính cùng tột của Kinh là giác ngộ, giải thoát, chưa hiểu đến lớp nghĩa ấy là chưa hiểu Kinh.
Có nhiều người đọc Kinh Vô Lượng Thọ, cứ hiểu rằng niệm danh Phật Di Đà được công đức vô lượng thời khi chết được Phật Di Đà dẫn về cõi Tịnh Độ Cực Lạc, vì hiểu thế mà khi chết thời cầu siêu rình rang, hiểu thế chưa đúng, Phật dạy niệm Phật, ấy là để khi thiền niệm Phật người tu được nhiếp tâm, mà nhiếp tâm thì vong tưởng tiêu tan, vong tưởng tiêu tan thời thấy được Chân Tâm (Phật Tánh), đắc quả Phật, lúc đấy tự khắc nhập Niết Bàn chẳng cần Phật nào dẫn.
Hay như nhiều người đọc phẩm Phổ Môn thuộc Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa), thấy có những đoạn như :
Liền chấp rằng Bồ Tát Quán Âm thường cứu khổ cứu nạn, nên thường tìm đến Ngài để cầu an, đầu năm hằng thường tổ chức đội sớ cầu an nườm nượp, cái hiểu này chưa cùng tột, chưa đến chổ cứu kính cuối cùng.
Quán Âm Bồ Tát ở đây đại diện cho cái nghe biết của nhĩ căn (tai), trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy Chân Tâm là "nhất tinh minh sinh lục hòa hợp", Chân Tâm thời như ngọn đèn trong nhà, sáu căn thời như sáu cửa, chúng minh vô minh vì đứng ở cửa trông ra nên không thấy Chân Tâm chỉ thấy cái hư giả, có câu "hối đầu thị ngạn" (quay đầu là bờ) là vì thế, nay đứng ở cửa trông vào ắt thấy Chân Tâm, nhĩ căn là cửa vậy, nghe biết mà không chấp Tiếng, không để vọng tưởng trỗi dậy là thấy Chân Tâm, không nghi.
Đọc Kinh, hiểu đến chổ cùng tột, hành đúng Pháp ấy mới đúng lời Phật dạy, đây là chổ thứ 3.
Lại nữa, chúng sinh vô minh vì sao? Vì chẳng biết Nhân Quả Luân Hồi mà tạo nghiệp, nghiệp nối nghiệp triền miên. Vì chẳng biết Cảnh, Thân, Tâm là vô thường, mà sinh tham sân si, chẳng biết vạn pháp do duyên hợp mà thành, là giả có mà sinh Ái Ngã ...
Phật quán biết, chúng sinh khổ vì nghiệp dẫn mà trôi lăn trong lục đạo luân hồi, sinh lão bệnh tử, ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tắng hội, vì chấp ngũ dục danh, tài, sắc, thực, thùy là vui là sướng mà không biết vui đấy khổ liền đấy, vui ấy giả có, từ đó Ngài phát tâm tư bi tìm đạo giải thoát, bày phương tiện giáo hóa.
Vậy chúng sanh cầu danh, cầu lợi, cầu sắc, cầu thọ ... Phật toại nguyện cho chăng ? Đây là chổ thứ 4.
Cuối cùng, nhiều người tu mà lại cầu Phật ở nơi đâu xa tắp, Chân Tâm nơi mình thì cầu ở nơi nào ? Phật nói : Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành, ấy nghĩa là mọi chúng sanh đều có Phật Tánh, nó thường hằng trong chúng ta, chỉ vì chúng ta quên đi chạy theo vọng tưởng hư dối mà thôi.
Có chuyện rằng, một cư sĩ hỏi Thiền sư : Phật ở đâu ? Sư đáp: như người cỡi trâu đi tìm trâu. Người đang cỡi trâu mà đi tìm trâu, dại quá. Nhà Thiền có câu : Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật, tức : chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, ý đều đồng như thế.
Vì các chổ như thế, nói gộp : Đừng cầu Phật !
Nói ĐỪNG cả hai món ấy bởi cả 2 đều là mê, là vô minh không đúng tinh thần Đạo Phật.
Quay trở về lịch sử, Việt Nam tuy có tông phái Đạo Phật riêng, nhưng trước đó có là nhờ ngoại truyền. Người Ấn Độ theo đường biển truyền đạo trước tiên, thời kỳ này, người Việt gọi Phật là Bụt (nói trại từ tiếng Budda), người Việt lúc ấy quán Bụt như một vị tiên, tâm từ thường giúp người bất hạnh, nghèo khổ, Bụt xuất hiện trong nhiều chuyện cổ tích như Tấm Cám ...
Sau đó, thời Trần, người Trung Quốc qua miền Bắc Việt Nam truyền đạo, Budda trong tiếng Hoa đọc là Phất người Việt đọc trại đi thành Phật. Ban đầu người ta dùng cả tiếng Bụt lẫn Phật, bây giờ chỉ còn dùng tiếng Phật.
Về chiều dọc, Đạo Phật tồn tại đã hơn 2500 năm, về chiều rộng thì có nhiều tông phái nhưng chung nhất là Nam Tông và Bắc Tông hay còn gọi là Tiểu Thừa, Đại Thừa, tuy nhiên nói Đại, Tiểu là chấp lớn nhỏ, trọng khinh nên thời nay đổi thành hệ Nguyên Thủy và hệ Phát Triển.
Hệ Nguyên Thủy trên tinh thần quay về hay chấp vào nguyên bản lúc khởi đầu của Phật Giáo, hệ Phát Triển trên tinh thần tùy duyên, nên khi truyền giáo tùy chổ mà dung hòa cả tín ngưỡng địa phương vào chùa. Lại nữa, thêm vào phần tác động của những biến đổi lịch sử dân tộc mà Đạo Phật bị phiên nhiễm nhiều tín ngưỡng khác nhau, phần nào đánh mất cái thuần túy của Đạo Phật.
Để ý thấy nhiều ngôi chua ở Việt Nam hiện nay thờ cả Quan Công, Mẫu, Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu ..., lại nữa, người tới chùa thường là để cầu danh, lợi, tài, thọ, sức, tự, an, xem ngày, xin xăm ... như đã nói, đó phần nhiều bởi sự phiên nhiễm của những tín ngưỡng khác vào Phật Giáo, chổ truyền đạo không đúng tinh thần thuần túy Đạo Phật và cũng bởi chổ mê tín, chổ chưa hiểu thấu đáo Đạo Phật của người đời.
Trước hết, Budda tiếng Ấn nghĩa là giác ngộ, Đạo Phật ấy là đạo giác ngộ, đã là đạo giác ngộ tất nhiên không chấp nhận bất cứ một niềm tin sai lầm, sai lẽ thật nào.
Người Phật Tử tại gia hay người xuất gia, trước đều đã quy y Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng), đã quy y Phật, Pháp, Tăng tất nhiên không thờ và không quy y nơi thần thánh tà, ngoại nào khác. Đó là chổ thứ nhất.
Tâm Phật là Tâm Đại Bi, thế nào là Đại Bi phải hiểu cho thấu triệt, Phật trước vì thấu căn cơ chúng sanh có chổ sai khác mà bày phương tiện có thứ lớp để giáo hóa chúng sanh, trong số hàng ngàn pháp môn có pháp Bố Thí.
Bố Thí gồm Tài Thí (của cải, sức lực), Pháp Thí (chia sẻ chánh Pháp), Vô úy thí (mang lại sự không sợ hãi), Bố Thí là phương tiện để người tu thực hành buông xả, phát tâm bồ đề, tuy nhiên Bố Thí chỉ là bề nổi của Đại Bi.
Đại Bi nơi Phật là lòng thương bình đẳng tất thảy chúng sanh, Phật không thương chúng sanh vì nghèo, vì bất hạnh, vì gặp khổ nạn, bởi Ngài thấu rõ những cái đó đều do nghiệp dẫn, Phật thương chúng sanh vì cái vô minh của chúng sanh, vì vậy mà bày phương tiện giáo hóa phổ độ, chỉ cho con đường giác ngộ. Cái thương bình đẳng, giàu cũng như nghèo, nam cũng như nữ ấy là bởi chúng sanh đều vô minh, bởi chúng sanh đều có Phật Tánh mà lãng quên nó. Vì vậy, tìm đến Phật, Pháp, Tăng để tiến tu cầu giải thoát, giác ngộ thì mới đúng tinh thần Đạo Phật. Đây là chổ thứ 2.
Phật tuyệt đối không phải là đấng Tối Cao có quyền sinh sát, tạo diệt trong tay, Phật đơn giản là người Giác Ngộ thấu triệt nhân sinh. Khi Ngài thiền 49 ngay dưới cội Bồ Đề mà chứng đạo, chứng được Lục Thông (Lục thần thông) nhưng thần thông này thuộc về cái hiểu biết, chứ chẳng thuộc về phép thuật, biến hóa như Tề Thiên trong phim.
Từ Thiên Nhãn thông, Túc Mạng thông, ..., Lậu Tận Thông đều là những cái thông suốt của trí tuệ, ví như nhờ có Thiên Nhãn thông mà Phật biết được trong nước có vi trùng (điều mà vài ngàn năm sau khoa học mới chứng thực), biết được thân người cấu thành từ tế bào, biết được vũ trụ bao la có nhiều hành tinh với hình thể khác nhau (điều mà đến thời cận đại gần đây chúng ta mới biết) ... . Vì Phật chẳng phải kiểu thần thánh, chúa như chúng ta hiểu, nên đừng cầu Phật dùng phép biến hóa giúp đỡ. Đây là chổ thứ 3.
Giáo lý Phật Giáo có 3, ấy là Kinh, Luật, Luận (gọi là Tam Tạng) thảy hết đều là phương tiện Đức Phật bày ra để chỉ cho chúng sanh con đường Giải Thoát, vì vậy đọc Kinh phải biết rằng Kinh là phương tiện, chổ cứu kính cùng tột của Kinh là giác ngộ, giải thoát, chưa hiểu đến lớp nghĩa ấy là chưa hiểu Kinh.
Có nhiều người đọc Kinh Vô Lượng Thọ, cứ hiểu rằng niệm danh Phật Di Đà được công đức vô lượng thời khi chết được Phật Di Đà dẫn về cõi Tịnh Độ Cực Lạc, vì hiểu thế mà khi chết thời cầu siêu rình rang, hiểu thế chưa đúng, Phật dạy niệm Phật, ấy là để khi thiền niệm Phật người tu được nhiếp tâm, mà nhiếp tâm thì vong tưởng tiêu tan, vong tưởng tiêu tan thời thấy được Chân Tâm (Phật Tánh), đắc quả Phật, lúc đấy tự khắc nhập Niết Bàn chẳng cần Phật nào dẫn.
Hay như nhiều người đọc phẩm Phổ Môn thuộc Kinh Pháp Hoa (Diệu Pháp Liên Hoa), thấy có những đoạn như :
Giả sử sinh lòng hại
Xô rớt hầm lửa lớn
Do sức niệm Quán Âm
Hầm lửa biến thành ao
Hoặc trôi dạt biển lớn
Các nạn quỉ, cá, rồng
Do sức niệm Quán Âm
Sóng mòi chẳng chìm được
Hoặc ở chót Tu Di
Bị người xô rớt xuống
Do sức niệm Quán Âm
Như mặt nhật treo không
Hoặc bị người dữ rượt
Rớt xuống núi Kim Cang
Do sức niệm Quán Âm
Chẳng tổn đến mảy lông
|
Quán Âm Bồ Tát ở đây đại diện cho cái nghe biết của nhĩ căn (tai), trong Kinh Lăng Nghiêm, Phật dạy Chân Tâm là "nhất tinh minh sinh lục hòa hợp", Chân Tâm thời như ngọn đèn trong nhà, sáu căn thời như sáu cửa, chúng minh vô minh vì đứng ở cửa trông ra nên không thấy Chân Tâm chỉ thấy cái hư giả, có câu "hối đầu thị ngạn" (quay đầu là bờ) là vì thế, nay đứng ở cửa trông vào ắt thấy Chân Tâm, nhĩ căn là cửa vậy, nghe biết mà không chấp Tiếng, không để vọng tưởng trỗi dậy là thấy Chân Tâm, không nghi.
Đọc Kinh, hiểu đến chổ cùng tột, hành đúng Pháp ấy mới đúng lời Phật dạy, đây là chổ thứ 3.
Lại nữa, chúng sinh vô minh vì sao? Vì chẳng biết Nhân Quả Luân Hồi mà tạo nghiệp, nghiệp nối nghiệp triền miên. Vì chẳng biết Cảnh, Thân, Tâm là vô thường, mà sinh tham sân si, chẳng biết vạn pháp do duyên hợp mà thành, là giả có mà sinh Ái Ngã ...
Phật quán biết, chúng sinh khổ vì nghiệp dẫn mà trôi lăn trong lục đạo luân hồi, sinh lão bệnh tử, ái biệt ly, cầu bất đắc, oán tắng hội, vì chấp ngũ dục danh, tài, sắc, thực, thùy là vui là sướng mà không biết vui đấy khổ liền đấy, vui ấy giả có, từ đó Ngài phát tâm tư bi tìm đạo giải thoát, bày phương tiện giáo hóa.
Vậy chúng sanh cầu danh, cầu lợi, cầu sắc, cầu thọ ... Phật toại nguyện cho chăng ? Đây là chổ thứ 4.
Cuối cùng, nhiều người tu mà lại cầu Phật ở nơi đâu xa tắp, Chân Tâm nơi mình thì cầu ở nơi nào ? Phật nói : Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành, ấy nghĩa là mọi chúng sanh đều có Phật Tánh, nó thường hằng trong chúng ta, chỉ vì chúng ta quên đi chạy theo vọng tưởng hư dối mà thôi.
Có chuyện rằng, một cư sĩ hỏi Thiền sư : Phật ở đâu ? Sư đáp: như người cỡi trâu đi tìm trâu. Người đang cỡi trâu mà đi tìm trâu, dại quá. Nhà Thiền có câu : Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật, tức : chỉ thẳng tâm người, thấy tánh thành Phật, ý đều đồng như thế.
Vì các chổ như thế, nói gộp : Đừng cầu Phật !
Friday, October 4, 2013
Quả báo của Anh Hùng Chiến Tranh ?
Sự ra đi của Đại Tướng Võ Nguyên Giáp, anh hùng của dân tộc Việt khi còn chinh chiến, cây đại thụ tinh thần khi về già, là nỗi bàng hoàng, là mất mát tinh thần hết sức to lớn của đất nước.
Là Phật tử, hiểu được lý vô thường của cuộc sống, tôi đón nhận tin này một cách bình thản nhất có thể, tôi cũng đã phát nguyện niệm Phật hồi hướng cho Đại Tướng trong 49 ngày, bắt đầu từ hôm qua.
Bàn về quả báo của anh hùng chiến tranh đúng là hơi tế nhị, bởi trong tâm thức của nhiều người, nói về quả báo là nói về điều xấu, tuy nhiên, trước hết xin nhắc lại rằng trong giáo lý nhà Phật, nói quả báo là nói cả quả lành và quả xấu.
Lại nữa, lý do mà tôi viết bài này, bởi nhận thấy có nhiều người tìm hiểu Phật Học chưa đến nơi đến chốn, hoặc căn cơ chưa đủ để hiểu, thường cho rằng : "Các anh hùng chiến tranh thường nhận quả báo xấu vì nghiệp "sát" quá lớn", đây là một nhận định sai lầm hết sức tai hại.
Bài viết này xin dành cho những người tín Phật có chánh kiến, còn những người theo tà kiến (không tin nhân quả), thường kiến (cho rằng linh hồn tồn tại mãi mãi), đoạn kiến (chết là hết) có thể bỏ qua, vì nội dung bài viết có những điều trái với niềm tin của các bạn.
Như chúng ta đã biết, chúng sinh tạo nghiệp, nghiệp tạo quá khứ, gặt quả hiện tại hoặc vị lai, nghiệp tạo hiện tại, gặt quả hiện tại hoặc vị lai. Tạo nghiệp Thiện, Lành thì gặt quả Thiện, Lành. Tạo nghiệp Xấu, Ác thì gặt quả Xấu, Ác.
Tuy nhiên, những gì là Thiện thì nhiều người vẫn hiểu rất sơ sài chung chung, mà chưa đi đến phần vi tế của nó. Muốn sâu sắc trong nhận thức về chữ Thiện, chúng ta cần hiểu về chữ "Lợi" và chữ "Thuận".
Những gì là Lợi ?
- Lợi mình, Lợi người là Lợi
- Thiệt mình, Lợi người là Lợi
- Thiệt ít người, Lợi nhiều người là Lợi
- Thiệt hiện tại, Lợi trong vị lai là Lợi
Những anh hùng chiến tranh như Đại Tướng thường nặng về cái Lợi thứ 3, tức tạo nghiệp "Sát" số ít (binh lính quân xâm lược, và bán nước) để tạo Lợi cho nhiều người (đưa dân tộc Việt thoát khỏi kiếp nô lệ, đạn bom ...)
Tuy nhiên, cũng phải nói, nếu Thiệt số ít, nhưng số ít này phải là cái Ác, cái Xấu thì cái Lợi mới viên mãn. Đến đây chúng ta bàn về chữ Thuận. Thuận theo tự nhiên, Thuận theo chánh pháp là Thuận, là Thiện.
Một dân tộc ngàn đời thống nhất, dân tộc đó có quyền tự định đoạt số phận của mình, để đi tiếp con đường của dân tộc đó, đó gọi là Thuận, là Thiện.
Những hành động nhằm bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc, đòi lại và duy trì sự thống nhất lãnh thổ là Thuận, là Thiện.
Người ngoại bang, với mưu đồ chia cắt dân tộc khác, dùng mọi thủ đoạn ngăn chăn sự thống nhất lãnh thổ là Nghịch, là Ác.
Số ít người, vì lợi ích của riêng mình mà theo quân ngoại xâm, giúp đỡ họ chia cắt, cai trị đất nước mình là Nghịch, là Ác.
Chúng sinh bình đẳng, ai cũng có quyền sống, mưu cầu hạnh phúc đó là Thuận, là Thiện.
Ngăn chặn sự giết hại, cướp bóc làm tổn hại đến quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của người khác là Thuận, là Thiện.
Mang quân đội sang đánh giết, cướp bóc người nước khác là Nghịch, là Ác.
Giúp đỡ cho sự giết hại, cướp bóc, làm tổn hại đến quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của người khác là Nghịch, là Ác.
Nói thêm về lý nhân quả, có 4 loại nghiệp sẽ sớm gặt quả, những gì là 4 :
- Trọng nghiệp : nghiệp nặng, có tác động và ảnh hưởng lớn đến nhiều người.
- Tích lũy nghiệp : nghiệp tích lũy trong thời gian dài
- Tuần hoàn nghiệp : nghiệp lặp đi lặp lại (ví như người làm trong lò mổ, ngày nào cũng sát sanh)
- Cận tử nghiệp : nghiệp gây ra trước lúc chết
Có thể thấy, về trọng nghiệp, Đại Tướng là người đã giúp dân tộc Việt Nam chiến thắng 2 kẻ thù xâm lược hùng mạnh, giành được độc lập, tự do, về tích lũy nghiệp, trong suốt cuộc đời của mình Đại Tướng luôn là người tinh tấn trong việc làm lành, làm lợi cho người dân Việt Nam ... tất cả đều là nghiệp Thiện.
Lại nữa, có 2 cách trả quả, cộng nghiệp (nhiều người cũng tạo một nghiệp) thì trả quả chung, biệt nghiệp (nghiệp riêng của mỗi người) thì trả quả riêng. Nói riêng trong 2 cuộc chiến bảo vệ đất nước, Đại Tướng và những chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam lúc ấy, có cộng nghiệp, đời sau sẽ gặt quả chung (như phân tích ở trên, đó là quả tốt), nhưng mỗi người cũng có những biệt nghiệp, sẽ không tránh được có người vì vô ý hay cố tình mà gây hại đến người vô tội vì vậy những người đó sẽ gặt quả báo xấu của riêng mình.
Như vậy, rõ ràng, những anh hùng chiến tranh, anh hùng dân tộc như Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã đạt được cả chữ Lợi, lẫn chữ Thuận vì vậy chắc chắn họ sẽ nhận được quả báo tốt, sinh vào cõi lành.
Không những thế, những người như Đại Tướng là những người thực hành rất chuyên hạnh bố thí, gồm cả tài thí (chia sẻ vật chất, sức lực), pháp thí (chia sẻ chánh pháp) và vô úy thí (ban sự không sợ hãi), đặc biệt là vô úy thí, họ làm những người dân không còn sợ hãi trước cái Ác, cái Xấu. Vì vậy, không chỉ nhận được quả báo tốt, mà họ còn có thể sinh vào cảnh giới của những bậc Giác Ngộ (Bồ Tát).
Là Phật tử, hiểu được lý vô thường của cuộc sống, tôi đón nhận tin này một cách bình thản nhất có thể, tôi cũng đã phát nguyện niệm Phật hồi hướng cho Đại Tướng trong 49 ngày, bắt đầu từ hôm qua.
Bàn về quả báo của anh hùng chiến tranh đúng là hơi tế nhị, bởi trong tâm thức của nhiều người, nói về quả báo là nói về điều xấu, tuy nhiên, trước hết xin nhắc lại rằng trong giáo lý nhà Phật, nói quả báo là nói cả quả lành và quả xấu.
Lại nữa, lý do mà tôi viết bài này, bởi nhận thấy có nhiều người tìm hiểu Phật Học chưa đến nơi đến chốn, hoặc căn cơ chưa đủ để hiểu, thường cho rằng : "Các anh hùng chiến tranh thường nhận quả báo xấu vì nghiệp "sát" quá lớn", đây là một nhận định sai lầm hết sức tai hại.
Bài viết này xin dành cho những người tín Phật có chánh kiến, còn những người theo tà kiến (không tin nhân quả), thường kiến (cho rằng linh hồn tồn tại mãi mãi), đoạn kiến (chết là hết) có thể bỏ qua, vì nội dung bài viết có những điều trái với niềm tin của các bạn.
Như chúng ta đã biết, chúng sinh tạo nghiệp, nghiệp tạo quá khứ, gặt quả hiện tại hoặc vị lai, nghiệp tạo hiện tại, gặt quả hiện tại hoặc vị lai. Tạo nghiệp Thiện, Lành thì gặt quả Thiện, Lành. Tạo nghiệp Xấu, Ác thì gặt quả Xấu, Ác.
Tuy nhiên, những gì là Thiện thì nhiều người vẫn hiểu rất sơ sài chung chung, mà chưa đi đến phần vi tế của nó. Muốn sâu sắc trong nhận thức về chữ Thiện, chúng ta cần hiểu về chữ "Lợi" và chữ "Thuận".
Những gì là Lợi ?
- Lợi mình, Lợi người là Lợi
- Thiệt mình, Lợi người là Lợi
- Thiệt ít người, Lợi nhiều người là Lợi
- Thiệt hiện tại, Lợi trong vị lai là Lợi
Những anh hùng chiến tranh như Đại Tướng thường nặng về cái Lợi thứ 3, tức tạo nghiệp "Sát" số ít (binh lính quân xâm lược, và bán nước) để tạo Lợi cho nhiều người (đưa dân tộc Việt thoát khỏi kiếp nô lệ, đạn bom ...)
Tuy nhiên, cũng phải nói, nếu Thiệt số ít, nhưng số ít này phải là cái Ác, cái Xấu thì cái Lợi mới viên mãn. Đến đây chúng ta bàn về chữ Thuận. Thuận theo tự nhiên, Thuận theo chánh pháp là Thuận, là Thiện.
Một dân tộc ngàn đời thống nhất, dân tộc đó có quyền tự định đoạt số phận của mình, để đi tiếp con đường của dân tộc đó, đó gọi là Thuận, là Thiện.
Những hành động nhằm bảo vệ đất nước, bảo vệ dân tộc, đòi lại và duy trì sự thống nhất lãnh thổ là Thuận, là Thiện.
Người ngoại bang, với mưu đồ chia cắt dân tộc khác, dùng mọi thủ đoạn ngăn chăn sự thống nhất lãnh thổ là Nghịch, là Ác.
Số ít người, vì lợi ích của riêng mình mà theo quân ngoại xâm, giúp đỡ họ chia cắt, cai trị đất nước mình là Nghịch, là Ác.
Chúng sinh bình đẳng, ai cũng có quyền sống, mưu cầu hạnh phúc đó là Thuận, là Thiện.
Ngăn chặn sự giết hại, cướp bóc làm tổn hại đến quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của người khác là Thuận, là Thiện.
Mang quân đội sang đánh giết, cướp bóc người nước khác là Nghịch, là Ác.
Giúp đỡ cho sự giết hại, cướp bóc, làm tổn hại đến quyền sống, quyền mưu cầu hạnh phúc của người khác là Nghịch, là Ác.
Nói thêm về lý nhân quả, có 4 loại nghiệp sẽ sớm gặt quả, những gì là 4 :
- Trọng nghiệp : nghiệp nặng, có tác động và ảnh hưởng lớn đến nhiều người.
- Tích lũy nghiệp : nghiệp tích lũy trong thời gian dài
- Tuần hoàn nghiệp : nghiệp lặp đi lặp lại (ví như người làm trong lò mổ, ngày nào cũng sát sanh)
- Cận tử nghiệp : nghiệp gây ra trước lúc chết
Có thể thấy, về trọng nghiệp, Đại Tướng là người đã giúp dân tộc Việt Nam chiến thắng 2 kẻ thù xâm lược hùng mạnh, giành được độc lập, tự do, về tích lũy nghiệp, trong suốt cuộc đời của mình Đại Tướng luôn là người tinh tấn trong việc làm lành, làm lợi cho người dân Việt Nam ... tất cả đều là nghiệp Thiện.
Lại nữa, có 2 cách trả quả, cộng nghiệp (nhiều người cũng tạo một nghiệp) thì trả quả chung, biệt nghiệp (nghiệp riêng của mỗi người) thì trả quả riêng. Nói riêng trong 2 cuộc chiến bảo vệ đất nước, Đại Tướng và những chiến sỹ quân đội nhân dân Việt Nam lúc ấy, có cộng nghiệp, đời sau sẽ gặt quả chung (như phân tích ở trên, đó là quả tốt), nhưng mỗi người cũng có những biệt nghiệp, sẽ không tránh được có người vì vô ý hay cố tình mà gây hại đến người vô tội vì vậy những người đó sẽ gặt quả báo xấu của riêng mình.
Như vậy, rõ ràng, những anh hùng chiến tranh, anh hùng dân tộc như Đại Tướng Võ Nguyên Giáp đã đạt được cả chữ Lợi, lẫn chữ Thuận vì vậy chắc chắn họ sẽ nhận được quả báo tốt, sinh vào cõi lành.
Không những thế, những người như Đại Tướng là những người thực hành rất chuyên hạnh bố thí, gồm cả tài thí (chia sẻ vật chất, sức lực), pháp thí (chia sẻ chánh pháp) và vô úy thí (ban sự không sợ hãi), đặc biệt là vô úy thí, họ làm những người dân không còn sợ hãi trước cái Ác, cái Xấu. Vì vậy, không chỉ nhận được quả báo tốt, mà họ còn có thể sinh vào cảnh giới của những bậc Giác Ngộ (Bồ Tát).
Subscribe to:
Posts (Atom)