Showing posts with label Loạn Thế Lộ Chân Long. Show all posts
Showing posts with label Loạn Thế Lộ Chân Long. Show all posts

Tuesday, February 25, 2014

Loạn Thế Lộ Chân Long hồi thứ 19

Trần Thăng, Trần Thái nhận lệnh Đinh Bộ Lĩnh ở lại giữ đất Bố Khẩu, dù trong suốt mấy năm không có nguy xâm lấn nhưng một mực nghiêm chẩn chẳng lơi là.

Trên phòng tuyến mà xưa Bộ Lĩnh cho xây đắp, Thái, Thăng lại cho lập thêm nhiều đồn chốt, cắt cử người thay nhau canh giữ không ngơi một khắc.

Tin thắng trận mỗi năm đôi ba lần gửi về, thế cờ ngày càng rõ được thua nhưng không lần nào thư không nhắc "phải cẩn thận", Thái, Thăng cũng không cần nhắc, thương hai anh em cứ người giữ thành thì người đốc thúc các đồn chốt không nghỉ ngày nào.

Trần Lãm  giao toàn bộ việc quân ở Bố Khẩu cho hai  con còn mình trở về với đúng nghĩ một người buôn sành sỏi. Trong là đồng bằng phù sa màu mỡ, ngoài là cửa biển tiện thông thương, neo đậu, đánh bắt, vùng Bố Khẩu nhờ đó mà ngày càng thịnh vượng.

Là một người buôn, Trần Lãm luôn cho rằng việc chọn Đinh Bộ Lĩnh để gửi gắm cơ đồ của mình và hậu vận của các con chính là thương vụ lớn nhất đời mình. Đôi khi ông tự ví mình với Lã Bất Vi đời chiến quốc ở phương Bắc, chỉ khác rằng Bất Vi dựa vào thủ đoạn bất minh mà thành công, còn ông là nhờ con mắt tinh anh nhìn người lại theo đạo mà đi.

Cuối năm 968, Trần Lãm nhuốm bệnh, biết khó mà qua được mới gọi hai con kề cận dặn dò, Trần Thăng, Trần Thái nghe tin bỏ hết việc quân về quỳ sụp bên giường cha.

Trần Lãm thều thào:

- Phụ thân biết hai con chẳng có chổ nào vượt trội hơn người dù rằng trí sức không phải tầm thường nên vẫn luôn dặn dò phải cẩn trọng không chút sơ sẩy, không lập công thì cũng chẳng để lỗi lầm. Nay lỡ như phụ thân có mệnh hệ, lời ấy cũng đem cột trong lòng chớ quên. 

Thăng, Thái bây giờ mắt đã chẳng phân biệt được tròng trắng đen, chỉ một màu đỏ mờ đi dưới ngấn nước chực rơi, cả hai chồm lên nắm lấy tay cha, nghẹn đắng chẳng thể nói lời nào.

Trần Lãm lại gượng sức:

- Bộ Lĩnh là chồng của em gái nhưng cũng là chủ tướng của hai con, tài đức Bộ Lĩnh thế nào, được thua trên chiến trận mấy năm qua ra sao chắc hai con đã rõ, vậy nên sức có năm dùng năm, có mười thì dùng cả mười, một lòng trung mà đi theo đừng sai khác. 

Đó cũng là lời cuối của Trần Lãm, nói xong nhắm mắt mà đi trong tiếng gào thảm của Thái, Thăng. Hai anh em làm tang cha rất trọng, dân trong vùng chịu ơn khi trước đến viếng rất đông.

Bảy ngày tang xong, Thăng, Thái bàn nhau việc quân trở lại thì bỗng có lính về báo:

- Thưa hai tướng, Lý Khuê vượt sông đánh vào Bố Khẩu ta, hai tướng mau chi viện kẻo phòng tuyến võ mất.

- Chúng có bao nhiêu quân? - Trần Thăng thảng thốt hỏi -

- Thưa, hiện tại chỉ khoảng hai ngàn

- Được ngươi lui đi - Thăng khoát tay ra hiệu, đoạn lại trông qua nhìn Trần Thái.

Trần Thái dường như đang cố trấn tĩnh lại, gương mặt đầy vẻ lo lắng, Thái cũng đưa mắt nhìn qua Thăng.

Nét mặt của Trần Thăng lúc đó cũng không kém phần lo lắng chỉ có điều ẩn trong sự lo lắng ấy có cả một chút phấn khích của người tướng sắp được ra trận. 

Trần Thái tuyệt không phải người nhút nhát, cũng tuyệt không phải kẻ chẳng đáng mặt làm tướng, Thái giống Trần Lãm ở chổ chỉ muốn yên không muốn động nhất là chuyện binh đao.

Còn Trần Thăng rõ ràng không phải một tướng kém cỏi, tính Thăng sôi nổi, hoạt bát, thích xông pha. Hồi Nguyễn Bồ, Nguyễn Phục, Đinh Thiết, Cao Sơn còn đóng ở Bố Khẩu, Thăng thường cùng các tướng thử võ nghệ, Thăng giỏi cưỡi ngựa, khi đánh trên sới thì chịu kém còn trên mình ngựa thì đến Nguyễn Bồ cũng nhận không bằng. 

Thấy anh mình vẻ như chưa có cách hay, Thăng liền cất tiếng: 

- Chuyện gấp ta nên quyết cho nhanh, nay em xin lĩnh ba ngàn quân chi viện, còn anh ở lại giữ thành.

- Cũng chỉ còn cách ấy - Thái đáp - Thực lực bọn Lý Khuê thế nào ta còn chưa rõ, đành tùy cơ ứng biến vậy. Em ra đấy chắc thắng thì đánh, không chắc thắng thì đừng đánh cố. 

- Em sẽ chú ý, nhưng lỡ có gì sơ sẩy, anh phải cố giữ lấy thành chờ tiếp viện, đừng liều mạng nướng quân lại thêm mất thành hỏng hết việc của chủ tướng.

- Được rồi, điểm binh đi ngay đi.

Cổng thành mở, Trần Thăng dẫn theo ba ngàn quân tiếp viện phòng tuyến, đi được hai phần ba đường thì đã thấy một đạo quân lạ tiến lại.

Quân ấy độ hơn năm ngàn, không hề dùng ngựa, toàn quân vận áo đen, quần đen, phía trước là đội khiên, kế sau là tiễn thủ, ngay sau đó là quân giáp chiến, cứ kế một người cầm kiếm là một kẻ dùng giáo, vẻ khí thế vô cùng.

Trông cờ xí thì rõ là quân Lý Khuê, Trần Thăng thất thần tự nói một minh:

- Phòng tuyến vỡ rồi, gay to.

Thăng lại đưa mắt nhìn vào giữa quân ấy, ở đó có một kẻ ngồi lọng tre, không xa hoa diêm dúa nhưng vẫn có chút ngạo nghễ. Thăng giận tím mặt.

Kẻ đó không cao, không quá mập, gương mặt tròn, râu tóc xồm xoàm, lông mày xếch lên, mắt dữ tợn, đó là Lý Khuê.

Lý Khuê lệnh cho quân mặc đồ đen, đang đên vượt sông để không bị phát hiện, lại dồn quân đánh vào một điểm trên phòng tuyến, lực lượng trên phòng tuyến khi ấy đang mỏng vì vậy chẳng mấy chống mà Khuê phá được.

Hạ được phòng tuyến, Khuê cho quân tiến về thành Bố Khẩu, quân tiếng chẳng bao lâu thì gặp một đạo quân khoảng ba ngàn đang vội vã kéo tới. Đạo quân ấy nửa là kị binh, nửa là quân giáp chiến giáo gươm có đủ, đó là quân Trần Thăng. 

Chổ quân Lý Khuê và Trần Thăng gặp nhau là một bãi đất pha cát rộng lớn, phù hợp cho bày trận giáp chiến, và nếu là giáp chiến thì Trần Thăng tự tin nắm phần chắc thắng dù ít quân hơn, tiếc là Khuê lại dùng tiễn binh. 

Đọc được thế trận đó, Trần Thăng nhanh chóng lên kế hoạch trong đầu, vội gọi một bộ tướng tín cẩn lại và nói:

- Xem tình thế này quân ta khó lòng chống đỡ, đánh cố chỉ tổ nướng quân. Ngươi mau mang theo 10 người, ngày đêm không nghỉ ra Đại La, chủ tướng Bộ Lĩnh đang ở đấy, xin với chủ tướng cho quân chi viện.

- Thưa rõ.

Quân gọi chi viện vừa đi, Trần Thăng lại gọi một kị binh đến và lệnh: 

- Ngươi chạy về thành, nói rõ vệ ở đây, bảo anh ta mở sẵn cổng thành, ta sẽ vừa đánh vừa rút.

- Thưa rõ.

Tiếp đó Thăng ngầm hiệu cho quân giáp chiến ở hậu quân sẵn sàng trở làm tiền quân ngõ hầu cho quân ấy rút trước, còn mình và kị binh cầm chân Lý Khuê và rút sau.

Khi ấy quân Lý Khuê chỉ còn cách trần thăng độ mười trượng. Khuê sai người khiên lọng ra trước, Thăng cũng một mình tế ngựa đến giáp mặt, Thăng nói:

- Bọn ta và ngươi trước nay chưa từng gây oán chuốc thù, cớ làm sao nhân lúc nhà ta có tang mà đem quân đánh lấn?

- Việc binh cốt ở chớp thời cơ, ta không nhân lúc Bố Khẩu đương có tang sự mà lơi là cảnh giác thì biết đánh lúc nào đây? - Lý Khuê vừa cười ha hả vừa đáp -

- Bố Khẩu ta từ lâu đã là đất của Đinh Bộ Lĩnh, thế quân của chủ tướng ta không lẽ ngươi chưa tường hay sao mà gan to bằng trời vậy? - Trần Thăng đe dọa -

- Ha Ha, ta và Đinh Bộ Lĩnh xưa nay cũng có oán thù chi nhưng y lại đem quân đánh hết sứ này lại đánh sứ khác, trước sau gì cũng đánh tới chổ ta, chẳng lẽ bắt ta ôm cây đợi chết?

- Chẳng lẽ ngươi đem quân đánh qua đây thì tránh được sao?

- Ta xem ngươi về võ nghệ chẳng phải hạng tép tôm, nhưng cái trí của ngươi hẳn là không dùng được - Lý Khuê giễu cợt -

- Rửa tai nghe ngươi chỉ giáo đây - Trần Thăng vẫn điềm tĩnh -

- Nay ta lấy Bố Khẩu của ngươi tất Hoa Lư coi như nằm trong túi, khi ấy ngươi nói xem, ta còn sợ Đinh Bộ Lĩnh không ?

- Ngươi tự tin lấy được Bố Khẩu?

- Ta tất nhiên là thế.

Lý Khuê quả thực không hề nói dối, gương mặt toát lên sự tự mãn như là việc ấy đã làm xong rồi. Quân Khuê đông hơn quân Thăng, tiễn binh phát vài loạt mưa tên, quân Thăng khó mà giữ đội hình, khi ấy quân giáp chiến của Khuê lao lên chém giết thì thắng thua coi như đã định.

Khuê đọc trận thế cũng rất nhạy bén, nhưng Khuê nhầm lẫn một chút, đây là đất họ Trần, ở đây Trần Thăng thông thuộc đến từng hạt cát, và cát như chiều lòng người bắt đầu tung mù trời khi Thăng dứt hiệu lệnh: Bày Trận!

Đội khị binh hơn một ngàn quây lại chạy nối nhau theo vòng trong lớn nhỏ, ngựa như đã được huấn luyện từ trước đưa chân đá cát bay loạn trong không trung.

Chẳng mấy chốc hai quân đã không thể nhìn thấy mặt nhau, Lý Khuê thấy tình thế thay đổi, sắc mặt cũng đổi thay, giận dữ thét tiễn thủ bắn tên.

Tên phát ra bay như mưa rào đầu hạ, mưa rơi thấm đất, tên bay vào đám bui không lồ ấy cũng nhất loạt cắm vào đất, tiếng của quân Trần Thăng khi ấy đã không còn. 

Nghĩa là quân Trần Thăng đã rút, nếu rút về Thăng, Thái ở mãi trong thành mà giữ tất khó phá, khi ấy quân chi viện của Đinh Bộ Lĩnh kéo đến, kế hoạch đổ bể, e rằng Khuê khó sống sót mà lường hậu quả.

Nghĩ vậy, Khuê thét quân băng qua đám bụi mà đuổi, bộ tướng của Khuê là Lê Khoa, tay phải cầm kiếm, tay trái cũng cầm kiếm dẫn đầu.

Khoa và lính đến hơn một trăm vừa ló ra khỏi đám bụi thì trúng tên cả, người chết kẻ bị thương, Trần Thăng không mang theo tiễn thủ, nhưng trên lưng của các kị binh thì cung tên có đủ.

Bụi ta dần, Lý Khuê đuổi rát tới, bộ tướng tín cẩn nhất chết quá dễ dàng, quân Thăng thì không mảy lấy một sợi lông, dù là lông ngựa, Khuê ngán ngẩm nhìn phía trước, cũng chừng mười trượng, một đám bụi khác lớn không kém. Tiếng chân ngựa nện xuống đất, tiếng thét của kị binh Trần Thăng làm Khuê ong cả đầu, như muỗi vo vo quanh tai mà không cách nào đập được nó. 

Không có thời gian nghĩ lâu, Lý Khuê cũng không nghĩ lâu, lệnh cho đội khiên tiến trước quân giáp chiến tiến theo, tiến thủ yểm trợ ngay sau cốt để hạn chế tên của kị binh Trần Thăng, giúp quân giáp chiến có cơ hội tiếp cận.

Quân ấy lại nhắm mắt lao qua đám bụi thứ hai, lần này an toàn, chỉ tiếc là Trần Thăng không còn ở đó, người ngựa đã chạy được khá xa.

Lấy chân người đuổi vó ngựa là điều không thể, nhưng chỉ sau một phút giận dữ, Khuê lại xua quân tiến. Quân Khuê đuổi theo như thể lá khô gió cuốn, không ngơi một khắc nhắm thẳng Bố Khẩu, dù vậy vưa trông thấy thành thì Trần Thăng đã đứng trên cổng thành tự bao giờ, kị binh cuối cùng đã vào, cổng thành đã đóng.

Khuê đến, Thăng trỏ Khuê nói:

- Bây giờ thì sao, ngươi còn đủ tự tin chứ?

Lý Khuê mặt tái mét, mắt đỏ phừng phừng, người run lên nửa vì mệt nửa vì giận, nhưng vẫn cao giọng nói cứng:

- Cũng thế cả thôi, thay vì bắt giết lần lượt, ta xử hai anh em ngươi cùng lúc cũng không sao.

Thăng bật cười khanh khách:

- Ngươi cố gồng mình làm gì, nếu ta mà là ngươi thì đã rút quân cho sớm chợ rồi, quân chi viện của chủ tướng ta không lâu nữa sẽ đến, lương thảo trong thành ta đử dùng cả năm, cung tên có đủ để tặng cho mỗi các ngươi vài tá về dùng, ngươi có cơ hội sao?

Nói rồi Thăng phất tay, nhất loạt cả ngàn tiễn thủ đứng sẵn trên thành, từ đó Thăng lệnh quân chia làm hai đội, thay nhau đứng sẵn trên thành như vậy.

Lý Khuê không nói thêm gì, biết khó công thành nổi nếu không dùng mạo hay, bèn cho quân hạ trại vây lấy thành chờ nghĩ kế. 

***

Tại Đại La, Đinh Bộ Lĩnh khi ấy họp các tướng bàn kế để một trận phục hết các sứ còn lại, kế đã bàn xong, ngày xuất quân đã định, thì bỗng đâu có tin từ Bố Khẩu báo về, Trần Lãm đã mất không lâu sau khi ngã bệnh.

Các tướng ai nấy đều tiếc thương, Bộ Lĩnh lại càng đau lòng hơn, Trần Lãm không chỉ là cha vợ, không chỉ là người trao cho Lĩnh cơ hội làm việc lớn, hơn cả, ông là người mà Lĩnh rất tôn trọng cảm phục. 

Dù thế, Bộ Lĩnh không mất đi sự bình tĩnh vốn có của mình nhất là cái trực giác của một vị tướng, ngay đêm đó Lĩnh gọi gấp các tướng đến và nói:

- Mười hai sứ, quân ta đã thu phục đến tám, các sứ còn lại hẳn đang ngày đêm lo sợ nhưng chắc chắn chẳng chịu ngồi yên, nay Lãm Công, cha vợ ta mất đi, tất có thể có sứ muốn nhân Bố Khẩu có thang sự mà đem quân đến đánh, Bố Khẩu mất, Hoa Lư cũng khó giữ, hậu quả không lường được. Đó chỉ là chuyện ta lo xa, nhưng không thể không đề phòng, các ngươi nói xem nên như thế nào?

Lưu Cơ ngẫm nghĩ một lát rồi đứng ra nói:

- Nếu chuyện đó xảy ra, với bản tính thận trọng của Trần Thái hẳn sẽ cố thủ trong thành rồi xin chi viện, chi băng ta gửi quân đến trước, quân vây thành tất bị bất ngờ mà tháo chạy. Lỡ như không có việc ấy, thì quân chi viện hợp với quân Bố Khẩu vượt sông đánh các sứ cũng không hỏng kế hoạch đã định.

- Nói hay lắm Lưu Cơ, ta cũng có sở ý đó, chỉ đang phân phân khả năng lệnh quân Đăng Châu hay Hoa Lư chi viện có tốt hơn không, nhưng xem chừng cách này là khả dĩ nhất.

Trịnh Tú khi ấy hỏi: 

- Phải chẳng chủ tướng sợ quân Đăng Châu hay Hoa Lư chi viện thì lại trúng kế ? Nếu thực có kế ấy thì chi bằng ta nên xuất quân vượt sông sớm hơn keo đêm dài nhiều mộng?

- Phải lắm! Nay ta lệnh cho Lưu Cơ điểm năm ngàn quân kéo đến Bố Khẩu, các tướng còn lại, điểm quân, chuẩn bị binh khi và lương thảo, hai ngày nữa thì xuất quân.

- Rõ - các tướng đồng thanh -

Lưu Cơ dẫn quân chi viện Bố Khẩu, hai ngày hành quân không ngơi nghỉ thì đến đất Đăng Châu của Phậm Bạch Hổ.

Phạm Bạch Hổ từ lúc phá xong sứ Nguyễn Siêu thì theo lệnh Bộ Lĩnh ở lại giữ đất Đăng Châu. Một hôm, Bach Hổ dẫn quân đi tuần, bỗng phát hiện một toán người ngựa đến hơn một chục.

Toán người ấy dường như đang có việc cần kíp, trông qua có thể đoán là đã chạy hơn một ngày không nghỉ, người ngựa lấm lem bùn đất, người thì tóc rối như tổ quạ, ai nây hốc hác luôn miệng quát tháo, ngựa thì vừa chạy vừa phát ra những tiếng phì phì mệt mỏi.

Bạch Hổ lẩm bẩm : "đây chẳng phải quân của Trần Thăng sao, chẳng lẽ Bố Khẩu gặp chuyện?", kế đó liền tế ngựa đến chắn đường. Toán người kia đang cắm đầu chạy thấy bị chắn đường bất ngờ vội vã kéo cương, ngựa cũng bất ngờ, kiễng hai chân lên dừng lại. 

Người cầm đầu toán người ấy nhận ra Bạch Hổ vội xuống Ngựa bái chào, rồi thưa: 

- Lý Khuê nhân lúc Bố Khẩu có tang sự, kéo quân sang đánh, Thăng tướng quân sai Đào thuấn tôi về Đại La xin chi viện, nhờ Phạm tướng quân nhường đường gấp, việc đang gấp.

- Ngươi kém trí, tướng của ngươi cũng lại thế, Đăng Châu ta sát bên đây sao không gọi chi viện, lại nhọc lòng về đến Đại La, lỡ hỏng việc thì sao?

- Nhưng ... - Đào Thuấn ngập ngừng -

- Nhưng nhịn gì nữa, mau theo ta về thành điểm binh - Bạch Hổ quát -

Đào Thuấn đành theo Bạch Hổ về thành Đăng Châu, trong lòng dẫu còn chút không yên, nhưng vẫn khấp khởi mừng.

Cả quân Bố Khẩu lẫn Đăng Châu kể từ khi theo về Đinh Bộ Lĩnh thì đều áp dụng cách tổ chức quân đội của Lĩnh, theo đó cứ mười người thì lập thành một đội, có một đội trưởng, cứ mười đội như thế lại có một tiểu tướng đứng đầu, lại thêm cứ một chủng quân lại do một bộ tướng nắm giữ nên việc điểm binh trở nên rất nhanh.

Điểm xong ba ngàn quân, Phạm Bạch Hổ sai Đào Thuấn hướng đạo vội vàng kéo đi, quân vừa rời khỏi thành độ 3 dặm thì phát hiện một đạo quân tầm năm ngàn kéo tới, quân ấy vội vàng không kém.

Nhìn cái cách giữ đội hình dù đang hành quân gấp ấy, Bạch Hổ đoán ngay là quân Đinh Bộ Lĩnh, liền lệnh cho tướng sỹ dừng lại đợi, quân ấy gần tới mới biết người dẫn đầu là Lưu Cơ. 

Lưu Cơ cũng nhận ra Bach Hổ, cái dáng cưỡi ngựa ưỡn ngực lên thì không lạc đi đâu được, lại thấy Đào Thuấn đứng kế bên thì tám chín phần đã hiểu điều gì đang xảy ra rồi:

- Phạm tướng quân gượm đã - Lưu Cơ gọi -

Bạch Hổ nhạy bén không kém, hỏi ngay:

- Lưu Cơ, ngươi cũng chi viện Bố Khẩu đấy sao?

- Chủ tướng hay tin Lãm Công mất, lo rằng có sứ nhân có đánh qua nên sai tôi mang quân đi, chẳng ngờ có sự ấy thật. Không biết tình hình quân địch thế nào, Phạm tướng quân có kế sách gì chưa?

Đào Thuấn nói xen vào: 

- Sứ ấy là Lý Khuê, khoảng 5 ngàn quân, gồm nửa tiễn thủ và nửa quân giáp chiến.

Bạch Hổ nói thêm:

- Ta cũng vưa hay tin, cấp kíp nên chưa có chủ ý gì hay cả.

- Nay tôi hợp quân với ngài tiến qua, quân trong thành đánh ra tất phá được, có điều ... - Lưu Cơ suy tư -

- Có điều gì ? - Bạch Hổ hỏi vội -

- Nếu ta đánh thốc vào sẽ có một trận ác chiến, nhiều người sẽ chết, đó là chổ tối kị của chủ tướng. Nếu có kế bắt được tướng hàng được binh thì tốt hơn.

Cả Bạch Hổ lẫn Lưu Cơ nhất thời chưa nghĩ ra được kế lưỡng tiện, đang trầm ngâm thì bỗng đâu có lính dẫn một người bị trói đến trước mặt hai người. 

Người đó trên dưới quần áo đều một màu đen, mặt mày lấm lét, tỏ vẻ run sợ nhưng thủy chung không nói một lời, Đào Thuấn quan sát một lúc rồi lên tiếng:

- Hắn đích thị là quân do thám của Lý Khuê rồi.

- Quan do thám của Lý Khuê à? Hừm ! 

Lưu Cơ vừa tự hỏi vừa ngẫm nghĩ, đoạn quay qua mấy người lính, lệnh: 

- Các ngươi giải thả cho hắn về đi.

Bạch Hổ đợi lính giải tên do thám đi rồi mới bày chổ nghi:

- Sao người không tra khảo rồi hẵng thả?

Lưu Cơ chậm rãi trả lời: 

- Thế quân Lý Khuê ra sao Đào Thuấn đã nắm được, tra khảo cũng chẳng có thêm gì.

Bach Hổ gật đầu cho là phải.

Lưu Cơ nói tiếp:

- Ở đây có sự không ổn, nếu Lý Khuê vây Bố Khẩu rồi mới sai quân đi thám thính thì tên trinh sát ấy không thể đến đây nhanh như thế được, bởi Đào Thuấn đã đi hết sức mà giờ mới tới, chỉ có thể là trước khi đánh vào Bố Khẩu, Khuê đã sai người đi rồi.

- Ý ngươi là sao? - Bach Hổ hỏi, Đào Thuấn cũng nhìn Lưu Cơ chờ câu trả lời.

- Hắn rõ sức quân ta nên mới đem quân đánh trước hòng tìm đường sống về sau, nay việc đánh nhanh thắng nhanh Bố Khẩu bất thành, tất đoán biết quân chi viện sớm muộn cũng đến mà vẫn vây lấy Bố Khẩu, chứng tỏ mục tiêu của hắn không phải Bố Khẩu mà chính là quân chi viện. 

- Năm ngàn quân, đối phó quân chi viện và cả quân trong thành ư?

Đến lượt Bạch Hổ tự hỏi vừa suy tư, đoạn như chợt hiểu ra liền gọi một bộ tướng là Đỗ Giang đến và lệnh: 

- Ngươi dẫn theo mười người giả làm người đánh cá, xuôi thuyền thám thính xem phía bên kia bờ có quân thanh viện của Lý Khuê hay không !

- Rõ thưa tướng quân!

Y theo lệnh ấy, Đỗ Giang vờ làm người đánh cá, theo sông xuôi dòng, đến chổ gần Bố Khẩu quả nhiên phát hiện phía bên kia bờ có quân đang đóng chờ tiếp ứng, thuyền bè đã sẵn sàng, quân ấy có đến năm ngàn, trông qua trang phục thì chính là quân Nguyễn Thủ Tiệp

Saturday, February 8, 2014

Loạn Thế Lộ Chân Long (Tiếp Hồi Thứ 2)

Hồi 2b: Ngô Quyền phá Nam Hán lần thứ nhất, Tiêu Ích nghĩ lại còn thất kinh

Nói chuyện Trước tác Tá hầu Dung, sau khi can gián Hoằng Tháo bất thành mới ủ rũ đến tìm Sùng văn hầu Tiêu Ích. Ích vừa thấy Dung đã vội vã hỏi :

- Thế nào ?

- Chẳng thay đổi được, Giao Vương xưa nay đã quyết ý, lời nào vào lỗ nhĩ đâu.

- Lẽ nào sẽ có Xích Bích trên đất Việt sao ?

- Ta e la còn hơn thế, Giao Vương chẳng bằng Tào Tháo, Ngô Quyền lại không thích dụng binh rườm rà đa sự như Gia Cát, lần trước đụng độ chắc ông đã biết.

Ký ức kinh hoàng về trận đánh bảy năm về trước lại hiện về mồn một trong tâm tuởng của Sùng Văn Hầu Tiêu Ích.

Năm 930, vua Nam Hán khi ấy là Lưu Cung xua một vạn quân sang xâm lược  Tĩnh Hải quân, bắt Tiết độ sứ Khúc Thừa Mỹ, đánh chiếm Đại La, sai Lý Tiến làm thứ sử.

Dương Đình Nghệ vốn là hào truởng đất Giàng ở Ái Châu về sau làm bộ tướng duới trướng Tiết Độ Sứ Khúc Hạo, năm 917, Khúc Hạo mất, con là Khúc Thừa Mỹ lên nối nghiệp cha. Dương Đình Nghệ tiếp tục làm bộ tướng cho Khúc Thừa Mỹ.

Đại La mất, chủ tuớng bị bắt, Dương Đình Nghệ phải lui về đất Giàng, theo ông có Ngô Quyền vốn là hào truởng Đường Lâm, Kiều Công Tiễn hào trưởng đất Phong Châu, Đinh Công Trứ hào truởng đất Diễn ở Hoan Châu.

Về tới đất Giàng, Dương Đình Nghệ cùng các tướng ra sức mộ quân luyện binh ngõ hầu sớm lấy lại Đại La nối chí họ Khúc xác lập chủ quyền nước Nam.

Nào ngờ, Lý Tiến vốn là hạng võ biền nhưng tính tình đa nghi, y cho quân do thám biết được tráng sỹ nước Nam đều đang tụ về đất Giàng, liền sai người tâu về với Lưu Cung. Cung họp quần thần tìm đối sách, lúc ấy Tiêu Ích đứng ra hiến kế:

- Lòng dân Nam vẫn hướng về họ Khúc, Đình Nghệ vốn là trọng tướng từ thời Khúc Hạo, nay y dấy binh chắc dân ấy theo về, Lý Tiến dẫu quân đông cũng khó lòng giữ, bệ hạ ở đây lại nước xa khó cứu lửa gần. Nay chi bằng ta phong cho Đình Nghệ làm thứ sử Ái Châu, lại sai quân đến đóng gần biên ải phong khi y rượu mừng không uống.

Cung nghe lời ấy, liền cho sứ qua Tĩnh Hải quân manh chỉ dụ sắc phong cho Dương Đình Nghệ, lại sai Trần Bảo làm soái, Tiêu Ích làm quân sư, đem quân đến đóng ở gần biên giới.

Sứ giả đến, Dương Đình Nghệ họp các tướng lại nói:

- Quân ta chỉ có ba ngàn, dẫu đều là tráng sỹ, dẫu đều một lòng trừ giăc thì cũng khó lòng đuổi được Lý Tiến. Nay tên giặc già Lưu Cung lại muốn phong ta làm thứ sử Ái Châu, ta không thuận tất xua quân đến phạt, các ngươi nghĩ nên đối sách thế nào?

Ngô Quyền khi ấy trầm ngâm một lát rồi cất tiếng:

- Phương Bắc đang thời hỗn loạn, nhà Hán nhân cơ hội ấy lập ra chẳng lâu, quân đội còn mới lại chẳng phải do chinh chiến mà nên, vì vậy tuy đông mà kém tinh nhuệ, đến đất ta lại chỉ chăm cướp bóc, ham chè chén, nhác luyện rèn, lơi kỷ cương. Ba ngàn quân đối một vạn, nói khó thì rất khó, nói dễ thì lại rất dễ, nhất là khi Lưu Cung lại cho ta một cơ hội tốt đến vậy.

- Ngô tướng có kế gì hay xin nói luôn - Đinh Công Trứ hỏi lại -

- Nay ta tương kế tựu kế, lựa lời nói với sứ giả rằng ta thuận sắc phong, nhưng với Lý Tiến vẫn phân trên dưới, vì vậy mà hẹn ngày ra Đại La nhận ấn chỉ do Lý Tiến trao cho phải lẽ. Phạm Lệnh Cộng xưa vốn đóng quân ở Nam Sách, ta gửi thư nói rõ kế để Lệnh Công đem quân đến đánh Đại La đúng ngày ta ra đó nhận sắc phong.

- Để ta đoán tiếp nhé - Đinh Công Trứ tiếp lời - Khi ấy ta vờ xin Lý Tiến cấp quân đi đánh Lệnh Công, Tiến hẳn sẽ mừng phát khóc. Ra xa khỏi thành rồi, ta hội với Lệnh Công mà diệt toán quân ấy, sau đó quay về lấy đầu Lý Tiến, đúng vậy không Ngô tướng quân ?

- Công Trứ thật hiểu bụng ta - Ngô Quyền đáp nhưng trên mặt còn chưa hết băn khoăn lo lắng.

- Cách hay, cách hay. Ngô Quyền, con luôn khiến cha được an dạ. - Dương Đình Nghệ vui mừng nói.

Tháng 3 năm 931, Dương Đình Nghệ dẫn quân ra Đại La, dưới danh nghĩa nhận sắc phong và ấn chỉ từ Lý Tiến, gần đến thành lại sai quân chia nhau âm thần đi về phái bắc, còn mình cùng hơn một trăm quân đi vào thành.

Đình Nghệ vờ như thuần phục nhà Hán, với Lý Tiến một mực kình nhường. Tiến lấy làm ưng dạ lắm, sai lính bày yến tiệc để mời Đình Nghệ. Vào tiệc, bọn tiến trên dưới quen thói chè chén, chẳng mấy chốc mà say túy lúy, lúc ấy có lính vào báo:

- Thưa Thứ Sử, có tin rất gấp

- Tin gì, nói mau - Tiến lè nhè -

- Thưa, Phạm Bạch Hổ ở Nam Sách đưa hai ngàn quân chuẩn bị vượt sông,  tiến đánh Đại La

"Ha Ha, Ha Ha"

Một trang cười hào sảng vô cùng vang lên, Tiến trông ra thì chính là ĐÌnh Nghệ. Dương Đình Nghệ bắt chước thói quen người Hán, đưa tay vuốt chỏm râu dài dưới cằm, nói:

- Hai ngàn quân mà dám cả gan đòi tiến đánh quân một vạn, chuyện nực cười như thế lão phu lần đầu được nghe. Nay đương lúc cao hứng, xin Lý Thứ Sử cấp cho ít quan, tôi ra thành lấy đầu tên tiểu tốt ấy về góp vui.

Lý Tiến đang lúc hăng rượu như dân Nam hăng mổ lợn Tết, nghe thế thì cả mừng, liền lệnh:

- Được ta giao cho ngươi lệnh bài, điều năm ngàn quân đi, lấy được đầu tên họ Phạm ấy, ta sẽ tâu với Hán Vương trọng thưởng.

Dương Đình Nghệ kéo quân ra khỏi thành, đến bờ sông Hồng, lệnh chi lính vượt sông, như dự tính, tiền quân vừa đến bờ bên kia thì đã thấy quân của Phạm Bạch Hổ trổ ra dùng nỏ bắn tới.

Tiền quân đang nhốn nháo kẻ chết người bị thương, trông lại hậu quân, thì ba ngàn tráng sỹ do Đinh Công Trứ dân đầu cũng áp sát tới. Năm ngàn quân Hán chết quá nửa, số còn lại đang ở giữa dòng thất thế phải chịu hàng, Dương Đình Nghệ bắt trói cả lại.

Dương Đình Nghệ họp với Đinh Công Trứ, Phạm Bạch Hổ, Phạm Bạch Hổ nói:

- Nhận được thư xủa Ngô tướng quân, cha tôi sai tôi đem quân đến ứng cứu, còn anh tôi Phạm Mân lo kế nghênh đón quân chi viên của bọn Hán. Hiện giờ Ngô tướng quân đã kịp đến hội với anh tôi, có nhắn lại với 2 vị rằng, nên cải trang cho các tráng sỹ rồi hãy kéo về thành. Phần tôi phải quay trở lại để tiếp ứng Ngô tướng quân.

- Không biết con ta đã có kế sách gì đối phó với quân chi viện của Lưu Cung rồi? - Dương Đình Nghệ hỏi lại -

- Thời gian không còn nhiều, hai vị đọc lấy thư này rồi sẽ rõ. - Phạm Bạch Hổ đáp, lấy trong người lá thư của Ngô Quyền gửi Phạm Lệnh Công trao cho Dương Đình Nghệ.

Dương Đình Nghệ dở ra thấy thư viết:

"Phạm Lệnh Công, thư này đến hẳn là trong lúc Lệnh Công đang nóng lòng đuổi giặc, chổ tôi và cha nuôi tôi kế sách đã bàn xong, nhưng kế ấy không có Lệnh Công thì không xong. Tháng ba này đúng hẹn, chúng tôi từ Ái Châu ra Đại La nhận sắc phong, cũng là lúc Lệnh Công đem quân đến Đại La, thuận duyên gặp gỡ cha tôi sẽ xin được cấp quân để hội cùng Lệnh Công trên bờ sông Hồng.

Đại La định xong, quân tiếp viện bên kia sẽ tới, chổ chúng ta tiếp họ là thung lũng Bắc Sơn, chắc Lệnh Công chẳng lạ, quân tiếp viện nóng vội tất đi qua chổ đó, mới mong mau đến Đại La, phiền Lệnh Công chọn chổ hiểm yếu có rừng bao quanh, vạch một khu có thể nuốt trọn vạn quân, sai người đổ nước muối vào gốc cây, lại cho đẽo vỏ cây sâu vào trong, cốt làm cây chết khô trong nửa tháng. Ra đến Đại La tôi sẽ thẳng đường qua Nam Sách nói rõ kế này. Thư từ Ngô Quyền"

Thư đọc xong, cả Dương Đình Nghệ lẫn Đinh Công Trứ đều sớm hiểu dụng ý của Ngô Quyền thầm khen trong bụng, yên chí kéo quân về Đại La. Đình Nghệ đẫn đầu, ba ngàn tráng sỹ vận đồ quân Hán kéo về qua cửa phía Tây, quân Hán trong thành tuyệt không chút nghi ngờ, chắc rằng là quân thắng trận trở về liền cho mở cửa thành.

Vừa qua khỏi cửa thành, Dương Đình Nghệ thét quân chém giết, những tráng sỹ nước Nam để hận lâu trong lòng, nay có dịp bao nhiêu uất ức trút cả vào thương vào giáo, quân Hán vốn không đề phòng lại thường ngày nhác luyện rèn lơi kỷ cương, thấy các tráng sỹ sấn tới chém giết thì khiếp vía tháo chạy.

Khi Lý Tiến biết chuyện gì đang xảy ra thì đã ở trong vòng bao vây của Dương Đình Nghệ, quân của Tiến số thì chết, số thì tán loạn theo cửa Bắc mà chạy đúng như ý của Đinh Công Trứ khi chọn vào cửa Tây, còn lại bên cạnh Tiến chỉ khoảng hơn hai trăm quân.

Quần áo xộc xệch mặc vội, Tiến cùng tùy tùng tất tả chạy ra sân trước, đến nơi thấy Dương Đình Nghệ ở sẵn đó thì chết đứng, trợn mắt quát như mếu:

- Ngươi ! Ngươi dám ...

- Sao ta không dám ?

- Chẳng phải ngươi đã nhận sắc phong rồi sao?

- Ta đâu thể để dân nước Nam này rủa ta trong ngàn năm sau. Ngươi chớ nên nói nhiều, chịu chết đi là vừa.

Lý Tiến cứng họng, mặt đỏ bừng trỏ về hướng Bắc thét quân mở đường máu, nào ngờ Tiến đánh đén đâu thì quân ta dạt ra đến đấy, được thế Tiến một mạch chạy về cửa Bắc.

Tất nhiên ở cửa Bắc, Đinh Công Trứ đã đón sẵn trên cửa thành, lần này Tiến không kịp nói gì, cả tướng lẫn lính bị tên bắn chết cả.

Tàn quân của Lý Tiến kéo nước không gặp một sự truy đuổi hay mai phục nào, chúng đem cái chết của Tiến thuật lại đầu đuôi. Trần Bảo được tin ấy toan cất quân đánh vào thì Tiêu Ích can gián:

- Tàn quân không tướng kéo về không gặp trở ngại nào chẳng phải điều lạ lắm hay sao, theo như tôi nghĩ thì chắc hẳn đã có bày cơ quan mai phục rồi. Tướng quân nên cân nhắc, kẻo lại mắc lỗi chủ quan như Lý Tiến.

- Quân Tĩnh Hải chỉ được một nhúm, tập trung hết vào phá thành Đại La, lấy đâu thời gian mà bày cơ quan mai phục. Nay ta cứ theo đường gần mà tiến một hơi, chúng sao kịp trở tay.

Tiêu Ích nghe thấy phải, dẫu còn e dè nhưng không nói gì thêm, sang hôm sau, Trần Bảo đốc quân đi, sai Tiêu Ích làm hậu quân phụ trách lương thảo.

Từ chổ cửa ải, vẽ thẳng một đường đến Đại La tất đi qua Bắc Sơn, Bảo chọn đi đường đó, quân đi không nghỉ, ngựa phi không dừng, 3 ngày sau quân của Bảo đã tiến đến Bắc Sơn. Bảy ngàn quân của Bảo đi vào một thung lũng bao quanh là rừng, với những thân cây cao lớn, lạ một điều đều đã chết khô hết cả.

Khi Bảo hiểu ra điều gì thì quân đã nằm gọn trong thung lũng ấy, tiếng lửa cháy phừng phừng râm ran, hơi nóng và thán khí tỏa đến làm ngựa rối loạn hí vang, quân sỹ hoang mang cùng tột.

Bảo quát hậu quân rút, còn tiền quân thì tiến nhanh, nhưng đã quá muộn, những thân cây cao lớn, đã được đẽo hết vỏ phần ruột còn lại cũng rất nhỏ, lửa bắt đến nhất tề ngã nhào xuống cả, không chỉ chắn đường rút quân Bảo mà còn quật hẳn vào đám lính đang vô cùng khiếp hoảng.

Không đường rút, không đường tiến, quân Bảo chịu chết, tiếng thét vang trời. Ngoài đám lửa khổng lồ ấy, Ngô Quyền, Phạm Bạch Hổ, Phạm Mân và hơn hai ngàn tráng sỹ lừng lững đứng. Không một nhát kiếm, không một mũi tên mà diệt non vạn quân giặc, đó là Ngô Quyền, là dân nước Nam.

Nhớ đến đó, Tiêu Ích như người mất hồn, Tá hầu Dung cũng không thèm gọi lấy một lời, lặng lẽ bỏ về.

Đêm đó, Dung ra nơi neo tàu chiến của quân Nam Hán, dùng máu viết lên áo 4 chữ : Cửa Tử Không Xa, rồi treo cổ tự vẫn.

Sáng ra, Hoằng Tháo sai người ném xác Dung xuống biển, rồi hạ lệnh tiến quân.

Monday, December 2, 2013

Loạn Thế Lộ Chân Long, hồi thứ 18

Kiều Công Hãn bị mất hai mãnh tướng, từ đó thủy chung đóng cổng thành không ra đánh, lại cho cung thủ sẵn sàng trên thành, khiến cho quân Lĩnh vây riết mấy ngày trời mà không dám đánh vào. Cuối cùng không có cách nào xoay chuyển tình hình Lĩnh đành kéo quân về Phong Châu Thượng.

Từ đó, cứ cách vài ngày, Lĩnh lại sai các tướng thay phiên đem quân đến đánh, nhưng Công Hãn vẫn bền chí bền gan thủ mãi, hơn hai tháng ròng rã, chẳng bên nào bắn ra một mũi tên, cứ quân Lĩnh kéo đến lại kéo về, còn quân họ Kiều không mảy may muốn đánh.

Đúng phải lúc tiết trời mua đông nhiều mưa dâm, lương thả sắp cạn, lòng quân chán nản, đánh mãi không được, Đinh Bộ Lĩnh tính đường phải rút quân thì Lưu Cơ đứng ra hiến kế : 

-         Tôi có một cách, chủ tướng xem thế nào ! 

-         Cách gì nói ta nghe !

-         Mùa đông, có một thứ mà quân dân trong thành Phong Châu Hạ buộc phải ra ngoài tìm kiếm đó là củi khô để sưởi ấm, bây lâu nay ta không phát giác chắc chắn là do họ ra khỏi thành vào lúc đêm. Nay ta cho lập các đồn kiểm soát không cho quân trong thành ra kiếm củi khô, tất chẳng lâu ta gọi phải ra hàng.

Đúng lúc đó có lính vào trình thư của Trịnh Tú gửi từ Đại La, Bộ Lĩnh mở thư ra đọc, thư viết:

“Chủ tướng hơn hai tháng vây riết mà không phá được Phong Châu Hạ, khiến cho Tú tôi ở Đại La cũng ngày đêm lo cái lo ấy, hôm nay ngồi bên bếp sưởi bất giác nghĩ quân Công Hãn trong thành cũng cần sưởi ấm lắm lắm, nên viết thư này ngỏ với chủ tướng nên tìm cách tuyệt lấy đường vận củi khô tất quân họ Kiều phải hàng. Thiển ý của Trịnh Tú.”

Lĩnh đọc xong đem thư đưa cho Lưu Cơ xem, rồi cả hai cùng cười, Lĩnh nói:

-         Quả nhiên có Trịnh Tú, Lưu Cơ ta chẳng phải lo gì, hai ngươi ở hai nơi mà đầu nghĩ cũng một chuyện, thật hay thay, kế ấy diệu lắm, nhưng ta chỉ e làm thế dân trong thành sẽ oán, đến khi lấy được rồi khó mà an, cũng cách ấy, nhưng ta nghĩ nên cho người giả làm tiều phu, tìm cách vào được trong thành làm nội ứng, Lưu Cơ thấy thế nào?

-         Chủ tướng tính thế là rất chu toàn, tôi không có ý khác.

Quả đúng như Trịnh Tú, Lưu Cơ tính toán, đang đêm, nhân lúc quân Bộ Lĩnh không vây đánh, dân trong thành Phong Châu Hạ mới được phép theo cổng thành phía Nam ra ngoài kiếm củi khô.

Đêm đó, Đinh Điền dẫn theo một trăm người ăn vận như dân thường, nhập vào đoàn tiều phu ấy cùng kiếm củi, sau đó lẩn theo vào thành mà lính canh công không hề phát giác.

Sáng hôm sau, khác mọi lần, Đinh Bộ Lĩnh đích thân dẫn quân đi vây đánh, Kiều Công Hãn ra đứng trên cổng thành trỏ xuống nói:

-         Bộ Lĩnh không lấy làm buồn chán sao?

-         Cũng có một chút!

-         Vậy sao không rút đi cho sớm, còn kịp nấu bánh chưng ăn tết?

-         Hôm nay tôi đến chào Kiều tướng quân đây.

Công Hãn nghe đến đó chợt mặt biến sắc, biết Bộ Lĩnh không phải hạng hay nói chơi, lại không trông thấy Nguyễn Bặc và Đinh Điền đâu liền thét quân giữ chặt các cổng thành.

Nhưng khi Công Hãn hiểu chuyện thì đã quá muộn, ở cổng phía Nam, lính canh bị Đinh Điền chém hết cả, cổng thành lại mở toang đón quân Nguyễn Bặc tiến vào, hai tướng lại đánh thốc tới cổng tây mở cổng cho đại quân của Bộ Lĩnh và các tướng kéo vào.

Công Hãn, Kiều Thuận thất trận phòng thủ, cùng nhau mở cổng thành phía Đông, mang theo ba ngàn quân tháo chạy.

Anh em họ Kiều nhắm hướng sông Đà mà chạy, quân Bộ Lĩnh cũng đuổi rát phía sau, cùng đường, Kiều Thuận bảo anh mình:

-         Lĩnh đang đuổi tới, chết cả hai chi bằng sống một, nay để em chặn hậu, còn anh đưa người vượt sông mà chạy.

Công Hãn nghe theo, dẫn người vượt sông, Bộ Lĩnh đem quân tới, Kiều Thuận ra chặn đánh, Thuận nói:

-         Đinh Bộ Lĩnh, hôm nay ta và ngươi một sống một còn ở đây.

-         Kiều Thuận, xưa cha ta tha mạng cho ông ở Đại La, nay ta lại đối mặt với ông ở đây, xem như họ Đinh ta và ông có ác duyên trước sau cần phải cắt.

Lĩnh nói rồi sai Đinh Liễn vào đánh, Đinh Liễn bao năm qua được Nguyễn Bặc, Đinh Điền chỉ dạy, võ nghệ cũng chẳng thuộc hạng thường. Liễn lăm lăm mũi thương tế ngựa vào đâm Kiều Thuận, Thuận nhanh tay đỡ được, nhưng bị Liễn mượn thế quật cán thương vào lưng. Thuận tức tối, quay ngựa lao vào đánh Liễn, hai bên hăng như mổ lợn tết mà mãi chưa phân cao thấp, cuối cùng Liễn vờ thua chạy, Thuận đuổi rát, nào ngờ bị trúng hồi mã thương của Liễn ngã ngựa mà chết.

Lúc đó Công Hãn đã kịp qua sông, đứng trên bờ rõ nước mắt trông em rồi tế ngựa cùng quân sỹ chạy. Đinh Liễn thưa :

-         Xin cha cho được mang quân vượt sông truy đuổi.

-         Không cần, ông ta chạy không qua nổi đất Ái Châu đâu – Bộ Lĩnh đáp –

Đinh Bộ Lĩnh quay lại hàng phục hết quân lính trong thành Phong Châu Hạ, lại mở kho lương phát cho dân chuẩn bị đón tết, dân trong vùng ai nấy đều hoàn hỷ, xong xuôi đâu vào đấy, Bộ Lĩnh cắt cử người trông coi đất Phong Châu còn mình kéo đại quân về Đại La.

Lĩnh vượt sông, cố tình đi ngang đất Đường Lâm, Ngô Nhật Khánh nghe tin cho người ra vời Lĩnh ghé thành, sứ đến mời Lĩnh im không nói chỉ dùng mũi thương gạch hai vạch chéo nhau trên mặt đất rồi lại kéo quân thẳng về Đại La. 

Về đến Đại La, nhân lúc đông đủ, Cự Lang lúc này mới đứng ra hỏi: 

- Lúc qua Đường Lâm, Nhật Khánh cho người vời sao chủ tướng đáp lại còn vẽ hai vạch chéo là ý gì ?

Bổ Lĩnh cười trông qua Lưu Cơ nói: 

- Lưu Cơ hiểu lý ấy chăng ?

- Ta đã đánh dẹp hết Cảnh Thạc đến Nguyễn Siêu và cả Công Hãn, đương nhiên đã trở thành đạo quân lớn nhất mà ai cũng phải kiêng dè. Ngô Nhật Khánh là kẻ yếu vía tất lo sợ bị quân ta đến đánh. Nay chủ tướng vờ làm vẻ bí ẩn là để Nhật Khánh sợ càng thêm sợ. Theo tôi đoán thì chẳng bao lâu nữa Khánh sẽ tự mang quân đến hàng. - Lưu Cơ nói -

- Ta quả có ý ấy, nhưng cũng chưa dám chắc mình hiểu hết con người Nhật Khánh, Nhật An, nên đợi thêm mấy ngày nữa xem sao. Sao bây giờ vẫn chưa có tin từ Ái Châu nhỉ?

Đinh Liễn đứng ra chắp tay hỏi: 

- Thưa cha, cha muốn biết tin gì từ Ái Châu vậy? 

- Tin của Lê Hoàn.

Lê Hoàn được Chân Lưu đại sư gửi gắm cho Bộ Lĩnh, Lĩnh cũng thấy Hoàn là người khí khái, sau khi rời Ái Châu thì giao cho cùng Đinh Liễn ở lại lo việc lương thảo, sau Liễn ra Động Giang hội quân, thì ở Ái Châu giao cả cho Hoàn. 

Hoàn cũng là kẻ tài ngạo trời đất, nhận lệnh ở lại trông coi Ái Châu, quân sỹ trên dưới không ai không nghe phục, Hoàn thường đưa người vào Hoan Châu, Nhật Nam mộ lính, cũng như để yên các đất ấy, nên mấy năm Bộ Lĩnh đem quân đi chinh chiến mà chẳng cần lo gì Ái Châu, Hoan Châu, Nhật Nam.

Bộ Lĩnh đuổi Kiều Công Hãn đến bờ sông Đà, đoán Công Hãn sẽ xuôi về đất Ái Châu nên viết thư gửi Lê Hoàn, thư chỉ có mấy chữ : 

"Tướng có thể giết, lính thì bắt sống cho trọn"

Hoàn nghe theo, đem lính chặn đường bày mai phục đợi Công Hãn. 

Kiều Công Hãn vượt được sông Đà thoát khỏi sự truy đuổi của Bộ Lĩnh, nhưng biết không thể quay về chiếm lại thành nữa, bèn dẫn lính theo hướng Ái Châu mà chạy, khi chay qua một đoạn đường mà một bên là vách núi đá vôi, bên kia một ngọn đồi với cây cối khá um tùm, bỗng đâu có quân ra chặn đánh. 

Tướng ra chặn chính là Lê Hoàn, Hoàn quát lớn: 

- Quân sỹ bên kia, ai muốn sống thì nên đứng dồn sang bên phải.

Nói rồi đưa tay ra hiệu, tức thời, lính bên vách núi bên trái trổ ra, sẵn sàng dùng đá ném xuống. Quân của Công Hãn hoảng sợ, đứng dồn cả về bên phải. Hoàn lúc đó lại quát lớn :

- Quân sỹ bên kia, ai muốn sống thì nên đứng dồn qua bên trái.

Nói xong lại đưa tay ra hiệu, thì trong những lùm cây trên ngọn đồi bên trái nhất tề cung thủ trổ ra nhắm nỏ và bên trái quân Công Hãn. Quân Công Hãn hoảng loạn, xô đẩy chen chúc nhau mà đứng. Công Hãn lúc này mới quát hỏi: 

- Ngươi la ai mà chặn đánh quân ta?

- Tôi là Lê Hoàn, bộ tướng của Đinh Bộ Lĩnh, chủ tướng tôi bảo tôi chờ ngài ở đây hơn 4 tháng rồi.

Kiều Công Hãn cả quân lẫn tướng nghe thế thì thất kinh, lính của Công Hãn nghe thế càng thêm hoảng loạn, buông giáo bỏ tướng quay đầu bỏ chạy. Công Hãn đứng sững, chưa biết phải thế nào thì Lê Hoàn đã tế ngựa đến toan chém, Công Hãn đỡ được, vừa đánh vừa chạy, Hoàn dừng ngựa, hiệu cho cung thủ nhắm Công Hãn mà bắn, Công Hãn đỡ được ba bốn, chẳng đỡ được chín mười trúng tên mà chết.

Lính của Công Hãn trên đường chạy lại bị chăn đánh, liền hàng cả, Hoàn bố trí cho hàng binh ấy về Phong Châu, còn mình không đợi lệnh, tự mình dẫn quân ra Đại La hội với Bộ Lĩnh.

Gặp Bộ Lĩnh, Hoàn thi lễ rồi nói:

- Tôi đã giết Công Hãn, bắt sống hết lính của ông ta lại cho về Phong Châu hết theo lời chủ tướng, đáng lẽ viết thư báo rồi chờ lệnh, nhưng thuộc hạ thấy các đất lân cận Ái Châu đều đã được yên, không cần phải trông giữ quá cẩn trọng nữa, nên mạo muội dẫn quân ra đây hội với chủ tướng, xin theo lập công.

- Tốt lắm, ngươi ra hội quân cũng hợp ý ta, trước sau gì ta cũng gọi ngươi ra thôi. 

Cuối mùa đông năm 967, sau khi Kiều Công Hãn bị Lê Hoàn giết ở Ái Châu, hai sứ Kiều Thuận, Kiều Công Hãn coi như mất, đây là trân đánh ngặt nghèo nhất của Đinh Bộ Lĩnh, cả hành quân lẫn vây đánh mất bốn tháng, thương vong gân một ngàn, thu phục gần một vạn hàng binh, yên được đất Phong Châu. Kiều Thuận, Kiều Công Hãn tuy hai mà một, chia nhau giữ Phong Châu, quân dẹp loạn đến chống cự được hơn ba tháng thì thua chạy, các tướng đều chết hết, quân sỹ thương vong gần hai ngàn, còn lại đều theo hàng Đinh Bộ Lĩnh.

Đầu mùa xuân năm 968, Đinh Bộ Lĩnh hội hết các tướng ra Đại La, bàn kế vượt sông dẹp các sứ Nguyễn Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Lý Khuê, Lã Đường. Quân của Bộ Lĩnh lúc này đã lên đến   bốn năm vạn, chia nhau đóng ở khắp các đất Phong Châu, Ái Châu, Đăng Châu, Thái Bình, Trường Yên, Động Giang, Tây Phù Liệt, nay chỉ để số ít lại giữ thành, còn lại theo các tướng ra hết Đại La. 

Quân tập trung ở Đại La lên đến gần ba vạn, khí thế nuốt càn khôn. Đương lúc Bộ Lĩnh đang nghị sự cùng các tướng, có lính vào báo: 

- Thưa chủ tướng, có Ngô Nhật Khánh ở Đường Lâm đến hội quân.

- Mời vào - Lĩnh nói, đoạn mỉm cười nói với Lưu Cơ - Ông đúng rồi !

Ngô Nhật Khánh nghe tin Đinh Bộ Lĩnh thắng trận ở Phong Châu, trên đường về Đại La có ngang qua Đường Lâm, bèn cho người vời vào thành, Lĩnh không đáp lại còn vạch ha vạch chéo trên đất, sứ giả về thuật lại chuyện ấy khiến trong lòng Khánh lo lắm. 

Khánh cho gọi Nhật An đến nói: 

- Anh cho người mời Đinh Bộ Lĩnh, ông ta không đáp lại còn vạch hai vạch chéo xuống đất rồi đi, em nói xem ấy là ý gì, phải chăng ông ta muốn ám chỉ thành Đường Lâm ta là mục tiêu tiếp theo?

- Điều ấy không thể võ đoán được, duy có điều, Đinh Bộ Lĩnh đem quân đánh khắp nơi thế như chẻ tre, các sứ lớn đều bj ông ta dẹp hết cả, quân ta cũng chẳng giữ mãi Đường Lâm này được, theo em thấy nên theo hàng Bộ Lĩnh mới là kẻ thức thời.

Khánh nghe thế im lặng không nói, trong bụng dùng giằng mãi, nữa muốn giữ đất Đường Lâm tự mình làm chủ một cõi nhưng sợ thế ấy chẳng bền, Đinh Bộ Lĩnh có thể đến lấy đất này bất cứ lúc nào, đến lúc ấy lại thành giặc chưa biết chừng.

Khánh chưa hạ quyết tâm thì đã nghe tin ở Đại La, quân của Đinh Bộ Lĩnh từ khắp nơi hội về có đến gần 3 vạn, cả kinh chẳng dám kê gối nghĩ ngợi thêm, liền cùng Nhật An dẫn quân đến hội xin làm bộ tướng. 

Lĩnh mời Khánh vào, hỏi : 

- Nhật Khánh đến tìm ta có việc gì chăng?

- Lần trước có hẹn với Đinh tướng quân, thế nguy của Đường Lâm được giải liền dẫn quân theo làm bộ tướng, sau lại hiềm nhiều nỗi mà trễ hẹn ấy, hôm nay tôi đến một lòng xin theo vậy.

- Nhật Khánh giữ đất Đường Lâm riêng mình một cõi chẳng phải tốt hơn theo ta làm bộ tướng sao, lợi hại đã nghĩ thông chưa?

- Chuyện ấy vốn đã sớm không cần nghĩ, tôi trước sau một lòng kính ngưỡng muốn theo về, xin Đinh tướng quân chấp thuận cho. 

- Ngươi đã nói thế, ta cũng đành thuận lòng vậy.

Cũng đầu năm 968, Ngô Nhật Khánh ở Đường Lâm cả tướng lẫn quân hơn năm ngàn theo về với Đinh Bộ Lĩnh, 12 sứ quân nay chỉ còn bốn sứ, tất cả đều đóng phía mạn bắc sông Hồng. Lĩnh muốn một trận mà dẹp 4 sứ ấy thống nhất đất nước, liền nói với các tướng:

- Ta cuối năm 965 thì khởi binh, đến nay cũng đã ba năm, nhờ các tướng mà đánh đâu được đó, nay thấy các tướng và quân sỹ tuy chưa mỏi, nhưng binh biến bao năm lòng dân cũng đã mỏi, mười hai sứ quân nay chỉ còn bốn, ta muốn một trận cho xong để dân yên nước ổn, nên hội các tướng về đây cả mà luận kế. Các tướng thấy thế nào?

Lưu Cơ đứng ra nói: 

- Trong 4 sứ quân này, Nguyễn Khoan và Nguyễn Thủ Tiệp vốn đã có mối liên kết, gần đây Nguyển Thủ Tiệp lại liên kết với Lý Khuê, theo đã đó, nếu ta không nhanh đánh tới thì 4 sứ liên kết với nhau, lúc ấy khó càng thêm khó. Thiết nghĩ nên chia quân làm bốn đạo, vượt sông áp sát các thành Tam Đái của Nguyễn Khoan, Tiên Du của Thủ Tiệp, Siêu Loại của Lý Khuê, Tế Giang của Lã Đường, rồi mới tùy cơ mà ứng biến.

- Nguyễn Khoan đóng ở Tam Đái cách xa so với 3 sứ kia là không đáng lo nhất, ba sứ còn lại rất có thể họ sẽ liên kết, ứng cứu lẫn nhau khi ta tiến đánh, vì vậy ta nên cho người đóng ở giữa các sứ này. - Trinh Tú nói thêm -

- Tốt lắm. Nay ta giao cho Nguyễn Bặc, Đinh Liễn điểm năm ngàn quân tiến đánh Tế Giang của Lã Đường. Lưu Cơ, Đinh Điền điểm năm ngàn quân tiến đánh Siêu Loại của Lý Khuê. Phạm Hạp, Cự Lang lãnh năm ngàn quân tiến đánh Tiên Du của Nguyễn Thủ Tiệp. Trần Thăng, Trần Thái, Nhật Khánh điểm quân đến chặn giữa các sứ. Ta, Trịnh Tú và Lê Hoàn sẽ lãnh binh tiến đánh Tam Đái.

Mùa xuân 968, đại quân của Đinh Bộ Lĩnh vượt sông, quyết một trận thống nhất đất nước.

Kết quả thế nào, xem hồi sau sẽ rõ.