- Thuyền trưởng! Gió giật rất mạnh, biển động dữ dội, e rằng bão sắp tới rồi, nhanh hơn ta tưởng.
- Hiện tại vị trí của tàu ta thế nào?
- Cách Lý Sơn khoảng 160 hải lý, Hoàng Sa 70 hải lý, thưa thuyền trưởng.
- Bão di chuyển hướng Tây Bắc, được rồi, cho mọi người bẻ lái tăng tốc về hướng Hoàng Sa
- Nhưng ...
- Không nhưng gì cả, đội tàu có 200 mạng người đấy, đó là lệnh.
Tiến Minh đi rồi, Đỗ Cường rơi vào trầm tư, đối với một thuyền trưởng mà nói, cơn giận của biển cả là chuyện thường, nhưng những gì chờ đợi anh ở Hoàng Sa có lẽ còn đáng sợ hơn cả bão tố. "Đến đâu tính đến đó", anh buột miệng, trách nhiệm của người đứng đầu buộc anh phải đưa ra quyết định, nhanh chóng, kịp thời và ít thiệt hại nhất chứ không phải ít đáng sợ hơn.
Vùng biển này vốn là ngư trường quen thuộc của đội tàu Thuận Thiên, trước nay tàu vẫn về trước bão, nhưng lần này vì quá ham cá, bão lại đổi hướng di chuyển nhanh bất thường ...
Tàu lướt sóng đi trước, bão cấp 8 rít gió đuổi theo sau, sấm chớp và mưa lớn.
- Đây là trạm kiểm soát Tây Sa, đề nghị tàu có số hiệu QNg 15981 ra khỏi vùng biển của Trung Quốc. Over.
- Mẹ kiếp! chúng nó không biết bão đang quần ngoài kia sao? - Tiến Minh lầm bầm -
- Chúng tôi là tàu cá của Việt Nam, đề nghị được neo đậu tránh bão. Over.
- Đề nghị không được chấp thuận, yêu cầu các tàu có số hiệu QNg 0105981, QNg 0105982, QNg 0105983, QNg 0105984 ra khỏi vùng biển của Trung Quốc. Over.
- Bão đang đến rất gần, một lần nữa đề nghị được neo đậu tránh bão. Over.
- Nếu tàu của các bạn không rút khỏi vùng biển của Trung Quốc chúng tôi sẽ bắn hạ. Over.
- Chó chết! - Tiến Minh chửi thành tiếng -
- Tăng tốc, cứ hướng thẳng bãi đậu mà vào - Đỗ Cường ra lệnh -
- Thuyền trưởng! Chúng nó bắn thật thì sao?
- Một thủy thủ muốn chết vì bị bắn hay chết vì biển?
* * *
- Hoàng, Lần ni mi đi lâu mau?
- Khoảng một tháng mạ à.
- Không hiểu răng mà mạ thấy lo lắm.
- Mạ khéo lo, chỉ là tập trận bình thường thôi mà mạ. Ơ kìa, răng mạ khóc?
- Ba bay ở mãi Trường Sa, mi thì suốt ngày lênh đênh trên biển, không cho mạ tủi thân sao?
- Mạ !
- Anh cứ để mạ khóc đi, linh cảm của phụ nữ không phải chuyện nhỏ đâu
- Em cũng vậy nữa sao?
- . . .
- Ba ơi ba! Sau này lớn ba cho con ra biển với nhé!
Anh đưa tay xoa đầu đứa con nhỏ rồi cùng ăn bữa cơm gia đình cuối cùng trước khi lên đường làm nhiệm vụ. Tháng bảy là tháng được chọn cho cuộc tập trận thường niên giữa Việt Nam và Phillipin trong suốt mười năm này. Lần này, đại úy Hoàng, thuyền trưởng mới của HQ 1059 nhận nhiệm vụ cùng 4 tàu chiến và một tàu đổ bộ đi Phillipin.
Phố Huế vẫn nên thơ như thưở thiếu thời, Hoàng ngắm nhìn thật kỹ, mọi thứ cứ thế lướt qua, lướt qua bên làn kính xe cho đến khi anh cảm thấy nặng trĩu vì quá nhiều điều mình bỏ lại sau lưng.
Anh bât Radio để xua đi những xúc cảm không nên có vào lúc này:
"Ngày hôm qua, khoảng hai trăm thuyền viên của đội tàu cá Thuận Thiên của Việt Nam đã bị Trung Quốc bắt giữ khi ghé vào Hoàng Sa tránh bão. Đây là một vụ việc hết sức nghiêm trọng, đại sứ quán Trung Quốc đã được triệu tới để nhận công hàm yêu cầu thả người. Chúng tôi sẽ theo sát diễn tiến vụ việc để cập nhật những thông tin mới nhất cho đồng bào"
Hoàng thở hắt ra, tay bấu chặt vào vô lăng ...
* * *
Một ngày chủ nhật hiếm hoi mà Nguyên Hương dậy từ rất sớm, hôm nay có một cuộc họp báo quan trọng, Việt Nam sẽ tổ chức lễ ký kết hàng loạt các hợp đồng mới với các đối tác Nga, Ấn, Nhật, Mỹ trong việc khai thác Biển Đông.
Báo Tuổi Trẻ dĩ nhiên được mời và cô phóng viên trẻ trung, tài năng là Nguyên Hương dĩ nhiên được cử đi, như thường lệ thủ tục làm dáng của phụ nữ là khá lâu, đến 8h sáng cô mới bước ra khỏi nhà.
Thành phố mùa này mưa nắng thất thường, cô không quên mang theo một cái ô nhỏ, Nguyên Hương thích đi bộ và từ nhà cô ra điểm họp báo cũng không xa lắm.
Băng tắt qua Quảng Trường Thống Nhất, cô đã thấy một đám đông lớn tu tập với quốc kỳ và các khẩu hiệu, một người thanh niên đứng trước hô lớn:
"Yêu cầu Trung Quốc thả các ngư dân Việt Nam"
"Hoàng Sa là của Việt Nam"
Nguyên Hươngnhận ra Thành, hai người vốn học chung lớp đại học, cô theo nghề báo, còn Thành công tác trong thành đoàn. Dĩ nhiên cô không thể bỏ lỡ một tấm ảnh.
Bỏ lại đám đông sau lưng, cô vẫn tự hỏi: "quái lạ, tin ngư dân bị mắt mới có sáng nay kia mà?", rồi cô hài lòng với lý giải về khả năng tiếp cận tin tức và vận động người tham gia của thành đoàn.
Khi cô đến, hội trường khách sạn Sao Việt đã kín người, buổi họp báo sẽ bắt đầu trong 5 phút tới và vất vả lắm cô mới tìm cho mình chổ đứng thuận tiện.
- Thưa quý vị, hôm nay chúng ta có mặt tại đây để chứng kiến lễ kí kết các hợp đồng cũng khai thác biển Đông với các nước bao gôm cả năng lượng, du lịch và hàng hải, các bạn có thể đặt câu hỏi từ lúc này.
- Thưa ông! - Nguyên Hương giơ tay -
- Mời cô!
- Tôi tin chắc rằng, những bản hợp đồng này sẽ mang lại nhiều lợi ích cho tất cả các bên, nhưng xin cho hỏi các bên sẽ đóng góp thế nào trong việc bảo vệ những lợi ích đó, trong trường hợp có nước khác xâm hại, ý tôi đó là một ví dụ?
* * *
- Ngài biết vì sao chúng ta có cuộc gặp hôm nay chứ?
- Thưa ngài chủ tịch, nếu ý ngài là chuyện bắt người ở Tây Sa thì mong ngài hiểu rằng nhóm người đó quá đông và chúng tôi không thể kiểm soát được nếu không bắt giữ.
- Ngài đại sứ có chút nhầm lẫn rồi, là Hoàng Sa, và cả ngài và chúng tôi đều biết rõ, mọi công dân Việt Nam đều có quyền đặt chân lên bất kỳ chổ nào thuộc chủ quyền Việt Nam.
- Thưa ngài chủ tịch, về điểm này tôi khó lòng nhất trí hoàn toàn với ngài, ở Tây Sa quan điểm của chúng ta là khác nhau, trên quan điểm của mình, chúng tôi buộc phải kiểm soát mọi rủi ro có thể.
- Bây giờ các ông đã biết họ hoàn toàn là những ngư dân vô hại, vậy câu hỏi là khi nào các ông sẽ thả người?
- Thưa ngài chủ tịch, việc trả lời câu hỏi đó thực sự vượt ra ngoài thâm quyền của tôi.
- Đây là công hàm chính thức của Việt Nam, các ông có 5 ngày để quyết định thả người.
- Thưa ngài chủ tịch, tôi chỉ có thể nói là sẽ cố gắng hết sức.
- Ngài nên như vậy, vì tất cả chúng ta đều muốn chinh phục các giới hạn.
"Đó là đoạn hội thoại của chủ tịch nước và ông đại sứ Trung Quốc", Ông đại tá Hải bậm môi nói sau khi thuật lại đoạn đối thoại. Tiếp đó ông hít một hơi thật sâu:
- Năm ngày cũng là thời gian để các đồng chí chuẩn bị, lệnh ở trên xuống, năm ngày sau kết quả thế nào thì Cảnh Sát Biển chúng ta cũng phải có mặt để đón người.
- Thưa đại tá, nếu họ không chịu trao trả, hoặc không trao trả ở Hoàng Sa thì làm sao ạ?
- Lúc đó sẽ có chỉ thị tiếp theo, CBS 9779 là soái hạm, lệnh sẽ được phát đi từ đó. Các đồng chí về chuẩn bị đi.
Rời khỏi phòng họp, Tuấn đi cùng với Hiển dọc theo hành lang ra ngoài, đó là một tình bạn lạ, cả hai cùng là dân biển ở Nghệ An, lớn lên cũng nhau, học cùng nhau, làm cảnh sát biển cùng nhau trên một con tàu.
- Mi thấy có chi lạ không?
- Chưa bao giờ chúng ta ra hạn thả người.
- Ừ, và chưa bao giờ cảnh sát biển ra Hoàng Sa đón người.
- Có thấy hồi hộp không mi?
- Không, tau phấn khích.
* * *
Đêm trước ngày khởi hành đối với Hoàng luôn luôn dài khác thường, anh không chỉ là người lính mà còn tự coi mình là đứa con của biển, anh có thói quen thức khuya để cảm nhận sự thiêng liêng trước mỗi chuyến đi. Hoàng sinh ra ở Trường Sa nơi cha anh đóng quân, cha anh hi sinh trong một trận giằng co với tàu địch khi ấy anh vừa 10 tuổi, mẹ anh đưa anh về quê sống. Lớn lên Hoàng đã rất khó khăn để thuyết phục mẹ cho anh nối chí cha mình.
Nhiệm vụ đã được phổ biến cách đây một tháng và anh đã có một tuần nghỉ phép về với gian đình, đây là lần đầu tiên Hoang tham gia tập trận với Phillipin với tư cách thuyền trưởng, năm lần gần nhất anh đều tham gia, ngoài cương vị mới thì mọi chuyện với anh chẳng có gì là lạ lẫm, nhưng sao vẫn có những nỗi niềm khó tả ...
- Con trai lớn lên con muốn làm gì?
Cha anh hỏi anh như thế khi dắt anh đi dọc bờ biển.
- Con muốn làm chiến sỹ hải quân nhu cha nhưng ... - Hoàng ngập ngừng -
- Nhưng sao con trai?
- Nhưng con muốn được đi khắp biển Đông ạ.
Người cha mỉm cười, cúi xuống công kênh con mình lên vai.
- Con có nhìn được xa hơn không?
- Dạ có ạ!
- Phải rồi con trai, khi nào lớn con sẽ nhìn xa hơn và đi nhiều hơn. Con có biết câu chuyện về Lạc Long Quân và Âu Cơ không?
- Dạ biết ạ!
- Thế con có biết câu nói cuối cùng của Lạc Long Quân trước khi chia tay Âu Cơ và các con không?
- Ông ấy nói gì vậy cha?
- Ông ấy nói rằng "khi nào muốn gặp cha thì đi ra biển".
"khi nào muốn gặp cha thì đi ra biển", Hoàng lẩm nhẩm một mình, ký ức ru anh vào giấc ngủ.
* * *
Chuông đồng hồ reo, đánh thức Nguyên Hương trong ngày thứ hai mà cô vốn căm thù, cô bắt đầu đối xử tệ với cái thứ phát ra âm thanh inh tai khó chịu mà đêm qua chính cô đã ra lệnh cho nó làm điều đó vào sáng nay.
Chiếc đồng hồ im bặt như thường lệ, còn cô chủ của nó lại chẳng như vậy, điều gì đó đã lôi cô vào phòng tắm trong trạng thái vật vờ thay vì tiếp tục ngủ. Mười lăm phút sau cô mới tỉnh táo đi ra, ăn vội và mặc quần áo cũng vội.
Bảy giờ, giờ thì Nguyên Hương đã thư thả trong xe, đong đưa theo tiếng nhạc, sáng nay cô có hẹn cà phê với Thành, thực ra thì cô chưa hài lòng lắm về câu trả lời của mình trong ngày hôm qua. Thành bảo rất bận nhưng vẫn dành cho cô 30 phút buổi, anh luôn như vậy với cô, dù thực tế hai người không thân thiết lắm.
- Chào bạn hiền - Thành vẫy tay, ly cafe vẫn còn nguyên, anh cũng chỉ vừa mới tới.
- Chào anh phó bí thư - Nguyên Hương cười đáp lại
- Không dám, có chuyện gì Hương nói luôn đi, xin lỗi vì Thành đúng là rất bận.
- Không mất nhiều thời gian đâu, Hương tò mò về cuộc biểu tình ngày hôm qua, có phải chỉ mình Hương thấy đó là một phản ứng quá nhanh không? Ý Hương là nhanh đến bất thường.
- Ra là chuyện đó, Hương rất tinh tế, Thành không phủ nhận nhưng tiếc là không thể nói gì hơn.
- Không có gợi ý nào sao?
- Có vẻ người ta thường không quan tâm đến sản phẩm của mình nhỉ? - Thành cười hỏi như đáp.
Hương Lan nhăn trán, rồi như chợt hiểu cô rút điện thoại ra đọc báo:
"Ngày hôm nay thứ trưởng bộ quốc phòng Vũ Kiến Minh sẽ bắt đầu chuyến thăm tới Nhật Bản và Hàn Quốc".
Hương Lan lại nhăn trán, miệng lẩm nhẩm, cô bấm số của Tuấn bạn mình, người đang làm cảnh sát biển.
* * *
[Còn tiếp]
Saturday, July 5, 2014
Thursday, July 3, 2014
KHI NÀO VIỆT NAM MỚI GIÀNH LẠI ĐƯỢC HOÀNG SA?
Câu hỏi "khi nào Việt Nam giành lại được Hoàng Sa?" đã xuất hiện nhiều trên báo, tuy nhiên câu trả lời thì theo tôi vẫn còn chung chung và chưa thỏa đáng. Nếu được hỏi một câu tương tự, tôi sẽ đáp: Khi có cơ hội!
Giành lại chủ quyền là câu chuyện của ngoại giao, pháp lý và cả quân sự nữa, ngoại giao thì có cơ hội ngoại giao, pháp lý có cơ hội pháp lý, quân sự có cơ hội quân sự. Quan trọng là trong bối cảnh hiện tại và xu hướng vân động tương lai thì khi nào cơ hội đến và cơ hội nào đến trước, cơ hội nào sẽ đến sau.
Cơ hội ngoại giao thì chúng ta đã có rồi, chúng ta đã biết Hoàng Sa và vùng biển đệm quanh Hoàng Sa đã rơi vào tay Trung Quốc sau cuộc đụng độ giữa hải quân Trung Quốc và hải quân Việt Nam Công Hòa năm 1965 và 1974, đến bây giờ tức tròn và hơn 40 năm.
Từ đó đến này, ta chưa đủ thế và chưa có cơ hội để khơi lại câu chuyện Hoàng Sa, câu chuyện ấy tưởng như sẽ là "cứt trâu để lâu hóa bùn", nhưng nó lại chỉ là con gấu ngủ đông mà thôi. Con gấu ấy, đã được chính Trung Quốc đánh thức khi họ ngang ngược trong vụ HD981, và ta dĩ nhiên không thể từ chối cơ hội ấy mà mượn nước đẩy thuyền, làm cho câu chuyện bùng nổ.
Đó là trong cái nguy lại có cái cơ. Ta đã không sợ hãi, và ta đã nhìn thấy được cái cơ ấy. Tôi thích cái cách mà ta thực hiện việc "nhảy đầm trên thực địa" với Trung Quốc, để rồi các buổi họp báo được mở ra, phóng viên quốc tế được theo tàu ra quan sát, câu chuyện được gửi tới cho cả thế giới.
Tôi thích cái cách mà ta đưa vấn đề biển Đông ra tất cả các hội nghi quốc tế mà mình tham gia, tố cáo Trung Quốc với những bằng chứng thép (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hội nghi thượng đỉnh Asean) rồi lại dịu giọng khi chính nghĩa đã thuộc về mình chừa phần ngang ngược cho Trung Quốc (Đại tướng Phung Quang Thanh, Đối thoại Shangri-La 13).
Để rồi giờ đây, thế giới ghi nhận việc các tàu chấp pháp của Việt Nam làm nhiệm vụ của mình ở vùng biển gần Hoàng Sa là lẽ hiển nhiên không chối cãi. Vùng tối Hoang Sa ngày càng được soi tỏ.
Cơ hội ngoại giao ở đây không phải là cơ hội đàm phán, đối thoại với Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa, bởi nói chuyện với Trung Quốc, ta đã làm, nếu điều đó mà có kết quả thì ta đã chẳng cần chờ cơ hội hôm nay. Ngoại giao không chỉ bó hẹp ở những cuộc đàm phán, dàn xếp, thương lượng giữa những người đại diện cho một nhóm hay một quốc gia mà cần được hiểu rộng là việc sử dụng tài xử trí, ứng biến để giành được sự thuận lợi, nó là một công cụ tạo ra cách diễn đạt các tuyên bố một cách không đối đầu.
Đối tượng ngoại giao của chúng ta trong câu chuyện Hoàng Sa là Trung Quốc, dĩ nhiên thế, nhưng bây giờ đối tượng khác quan trọng hơn đó là bên thứ ba, rộng thì là cộng đồng quốc tế, thiết thực thì là với các nước có vai trò liên quan, cơ hội ở đây là cơ hội để truyền thông với cộng đồng quốc tế, là cơ hội để đặt vấn đề kêu gọi sự ủng hộ và chia sẻ lợi ích với các nước.
Về ngoại giao theo tôi thấy, thời gian qua ta đã nắm bắt triệt để cơ hội mình có và có những bước đi đúng đắn. Muốn giành lại cái gì đó, thường vẫn gồm ba bước: tuyên bố (nó là của tôi), lý lẽ (chứng minh nó là của tôi) và giành lại (dùng vũ lực nếu còn ngoan cố), chúng ta đã thực hiện bước đầu một cách rất trọn vẹn.
Cũng phải nói trước là biện chứng giữa ngoại giao, pháp lý và quân sự là tương hỗ lẫn nhau, luôn và phải có sự kết hợp động thời, tuy nhiên trong từng giai đoạn thì mỗi biện pháp lại giữ vai trò chủ đạo, các biện pháp còn lại có nhiệm vụ hỗ trợ. Vì thế bài viết này trình bày theo từng giai đoạn theo trình tự thời gian.
Pháp lý trong thời gian qua đã là một "quân bài lật ngửa" trên bàn ngoại giao, sức mạnh của quân Át này là lẽ phải và chính nghĩa, nhờ sức mạnh đó phần nào trợ oai được cho các lá bài khác đã đánh ra, việc ta bày công khai các bằng chứng, rồi tuyên bố "cân nhắc" kiện ra tòa quốc tế cho đến rục rịch các thủ tục kiện tụng chính đã làm cho "quân bài lật ngửa" ấy thập phần lợi hại.
Nếu truyền thông đủ mạnh, tức công khai được rộng rãi các bằng chứng lý lẽ và tính đanh thép của nó thì với phiên tòa dư luận ta cũng có được lẽ phải và chính nghĩa nhưng cuối cùng một phán quyết rạch ròi cũng phải đưa ra, bởi pháp lý cần những cơ sở thực tiễn, vì vậy vẫn phải kiện với một phiên tòa chính thức.
Cơ hội thưa kiện sẽ đến khi hội đủ ba điều kiện thứ nhất là khi truyền thông lên đến cao trào của nó, thứ hai là khi đủ tự tin với các bằng chứng của mình có ta có thể thắng chắc trong một phiên tòa công bằng, thứ ba là các hoạt động ngoại giao nhận được những sự ủng hộ đủ để giữ phiên tòa được công bằng.
Không phải muốn kiện là kiện, nhưng theo sự quan sát của tôi thì cơ hội chín muồi không còn xa nữa, dĩ nhiên là cũng chỉ nhìn hiện tượng đoán bản chất, nhìn hình thức đoán nội dung thôi vì tôi không chung mâm với bộ chính trị. Một khi đã tuyên bố "không đổi chủ quyền lấy hữu nghị viễn vông" thì trong tay ắt hẳn đã có một vài tấc sắt bén nhọn rồi.
Một khi đã kiện rồi thì phải chờ, chờ cơ hội quân sự. Chúng ta biết, ngoại giao đơn thuần không bao giờ mang lại kết quả cuối cùng nếu một bên không có thiện chí, còn luật quốc tế nói chung là chỉ có chế định không có chế tài, Trung Quốc thì chưa chắc đã chịu lên tòa chứ chưa nói đến sẽ trao trả nếu có phán quyết.
Tôn Tử nói: Chiến tranh là đại sự của quốc gia, quan hệ tới việc sống chết của nhân dân, sự mất còn của nhà nước, không thể không khảo sát nghiên cứu cho thật kỹ. Chiến tranh là điều cực chẳng đã, nhưng chủ quyền thì không thể nhân nhượng, trước sau gì cũng phải dùng tới quân sự để giành Hoàng Sa nhưng phải tính toán kỹ lưỡng, chờ đợi cơ hội.
Tôn Tử lại có nói: Trước kia người giỏi dụng binh đánh giặc, trước tiên phải không để bại, sau mới đánh bại kẻ địch. không để bại là do mình, giành chiên thắng là tại địch. Thế nên người giỏi dụng binh có thể làm kẻ địch không thắng được mình, nhưng không chắc làm kẻ địch bị ta đánh thắng. Cho nên nói thắng lợi có thể dự kiến nhưng không nhất thiết đòi hỏi được (tối nghĩa quá:"thắng khả tri,i nhi bất khả vi") không thể thắng được thì thủ, có thể thắng được thì công. Thủ là do chưa đủ điều kiện, công là khi điều kiện có thừa.
Tôn Tử vốn người Trung Quốc, trích lời Tôn Tử chẳng phải bởi chúng ta không nghĩ ra được cái gì hay, chẳng phải có ý lấy gậy ông đạp lưng ông mà bởi những phát biểu của ông vượt ra khỏi ranh giới một quốc gia, nó được xem là tài sản chung của nhân loại.
Cứ theo đó mà làm, chưa đủ điều kiện thì thủ, chúng ta tích lũy sức mạnh quân sự của mình và cơ hội tiến quân sẽ đến khi tương quan cho thấy ta có thể chiếm lại và đặc biệt là có thể giữ được. Nếu 2 bước đi đầu tiên của chúng ta (ngoại giao, pháp lý) cho kết quả khả quan thì việc chờ đợi của chúng ta sẽ không mất mát gì ngoài thời gian, bởi khi đó việc ta chiếm lại Hoàng Sa không còn phụ thuộc về mặt thời điểm nữa, lúc nào ta cũng năm lẽ phải và chính nghĩa trong tay không phải e sợ để lâu phân trâu hóa bùn nữa.
Thế giới đầy biến động, cơ hội chắc chắn sẽ đến, mâu thuẫn nội tại trong lòng Trung Quốc không phải là loại mâu thuẫn có thể dung hòa, nền kinh tế móng yếu tường to không bền được mãi, Trung Quốc trỗi dậy không phải là mang hòa bình như họ nói và các nước khác cũng không cả tin như vậy. Chúng ta cũng có thể tự thay đổi cục diện khi mạnh lên mỗi ngày.
Biết người biết ta trăm trận trăm thắng, soi lại lịch sử Trung Quốc, điểm yếu của họ không phải là mấy thứ linh tinh mà các ông giáo sư tiến sỹ hay phân tích như "không có đạo lý lẫn pháp lý", "sợ Việt Nam", "Hải quân TQ lộ điểm yếu ..." ... vân vân ...
Nếu có giao tranh, một vài điểm có thể kể đến là tinh thần chiến đấu dưới sự tác động của chính sách "mỗi gia đình một con", kinh nghiệm chiến đấu khi quân đội Trung Quốc đã hơn 60 năm chưa đánh đấm gì (ngoại trừ chiến tranh biên giời V-T 1979), tầm tác chiến ...
Còn nói về cơ hội, chúng ta biết Trung Quốc là đất nước có rất rất nhiều cuộc nội chiến trong lịch sử, Trung Quốc cũng là nước chứng kiến rất nhiều cuộc thịnh suy của chính mình, hiện tại, những mâu thuẫn không thể dung hòa, những vết nứt trên móng nền kinh tế, sự phân hóa giàu nghèo ... Lịch sử dường như là những vòng xoắn ốc.
Cũng trong lịch sử, đối chiếu sử Việt Nam và Trung Quốc ta thấy sõ sự thịnh suy tác động lẫn nhau rất nhiều. Ngô Quyền nhân loạn Ngũ Đại Thập Quốc mà giành lại chủ quyền, Lê Đại Hành được thế mạnh mà quấy phá biên cương người hòng giữ biên cương của mình, Lý Thường Kiệt nhân triều Tống hủ hoại mà chẳng giữ sự e dè ...
Luận nhiều thì kết là "vẫn phải chờ" nhưng "chờ cơ hội" thì khác với "chờ một ngày nào đó". Chờ đợi có phương hướng khác với chờ đợi vô phương khơi khơi.
Giành lại chủ quyền là câu chuyện của ngoại giao, pháp lý và cả quân sự nữa, ngoại giao thì có cơ hội ngoại giao, pháp lý có cơ hội pháp lý, quân sự có cơ hội quân sự. Quan trọng là trong bối cảnh hiện tại và xu hướng vân động tương lai thì khi nào cơ hội đến và cơ hội nào đến trước, cơ hội nào sẽ đến sau.
Cơ hội ngoại giao thì chúng ta đã có rồi, chúng ta đã biết Hoàng Sa và vùng biển đệm quanh Hoàng Sa đã rơi vào tay Trung Quốc sau cuộc đụng độ giữa hải quân Trung Quốc và hải quân Việt Nam Công Hòa năm 1965 và 1974, đến bây giờ tức tròn và hơn 40 năm.
Từ đó đến này, ta chưa đủ thế và chưa có cơ hội để khơi lại câu chuyện Hoàng Sa, câu chuyện ấy tưởng như sẽ là "cứt trâu để lâu hóa bùn", nhưng nó lại chỉ là con gấu ngủ đông mà thôi. Con gấu ấy, đã được chính Trung Quốc đánh thức khi họ ngang ngược trong vụ HD981, và ta dĩ nhiên không thể từ chối cơ hội ấy mà mượn nước đẩy thuyền, làm cho câu chuyện bùng nổ.
Đó là trong cái nguy lại có cái cơ. Ta đã không sợ hãi, và ta đã nhìn thấy được cái cơ ấy. Tôi thích cái cách mà ta thực hiện việc "nhảy đầm trên thực địa" với Trung Quốc, để rồi các buổi họp báo được mở ra, phóng viên quốc tế được theo tàu ra quan sát, câu chuyện được gửi tới cho cả thế giới.
Tôi thích cái cách mà ta đưa vấn đề biển Đông ra tất cả các hội nghi quốc tế mà mình tham gia, tố cáo Trung Quốc với những bằng chứng thép (Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, hội nghi thượng đỉnh Asean) rồi lại dịu giọng khi chính nghĩa đã thuộc về mình chừa phần ngang ngược cho Trung Quốc (Đại tướng Phung Quang Thanh, Đối thoại Shangri-La 13).
Để rồi giờ đây, thế giới ghi nhận việc các tàu chấp pháp của Việt Nam làm nhiệm vụ của mình ở vùng biển gần Hoàng Sa là lẽ hiển nhiên không chối cãi. Vùng tối Hoang Sa ngày càng được soi tỏ.
Cơ hội ngoại giao ở đây không phải là cơ hội đàm phán, đối thoại với Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa, bởi nói chuyện với Trung Quốc, ta đã làm, nếu điều đó mà có kết quả thì ta đã chẳng cần chờ cơ hội hôm nay. Ngoại giao không chỉ bó hẹp ở những cuộc đàm phán, dàn xếp, thương lượng giữa những người đại diện cho một nhóm hay một quốc gia mà cần được hiểu rộng là việc sử dụng tài xử trí, ứng biến để giành được sự thuận lợi, nó là một công cụ tạo ra cách diễn đạt các tuyên bố một cách không đối đầu.
Đối tượng ngoại giao của chúng ta trong câu chuyện Hoàng Sa là Trung Quốc, dĩ nhiên thế, nhưng bây giờ đối tượng khác quan trọng hơn đó là bên thứ ba, rộng thì là cộng đồng quốc tế, thiết thực thì là với các nước có vai trò liên quan, cơ hội ở đây là cơ hội để truyền thông với cộng đồng quốc tế, là cơ hội để đặt vấn đề kêu gọi sự ủng hộ và chia sẻ lợi ích với các nước.
Về ngoại giao theo tôi thấy, thời gian qua ta đã nắm bắt triệt để cơ hội mình có và có những bước đi đúng đắn. Muốn giành lại cái gì đó, thường vẫn gồm ba bước: tuyên bố (nó là của tôi), lý lẽ (chứng minh nó là của tôi) và giành lại (dùng vũ lực nếu còn ngoan cố), chúng ta đã thực hiện bước đầu một cách rất trọn vẹn.
Cũng phải nói trước là biện chứng giữa ngoại giao, pháp lý và quân sự là tương hỗ lẫn nhau, luôn và phải có sự kết hợp động thời, tuy nhiên trong từng giai đoạn thì mỗi biện pháp lại giữ vai trò chủ đạo, các biện pháp còn lại có nhiệm vụ hỗ trợ. Vì thế bài viết này trình bày theo từng giai đoạn theo trình tự thời gian.
Pháp lý trong thời gian qua đã là một "quân bài lật ngửa" trên bàn ngoại giao, sức mạnh của quân Át này là lẽ phải và chính nghĩa, nhờ sức mạnh đó phần nào trợ oai được cho các lá bài khác đã đánh ra, việc ta bày công khai các bằng chứng, rồi tuyên bố "cân nhắc" kiện ra tòa quốc tế cho đến rục rịch các thủ tục kiện tụng chính đã làm cho "quân bài lật ngửa" ấy thập phần lợi hại.
Nếu truyền thông đủ mạnh, tức công khai được rộng rãi các bằng chứng lý lẽ và tính đanh thép của nó thì với phiên tòa dư luận ta cũng có được lẽ phải và chính nghĩa nhưng cuối cùng một phán quyết rạch ròi cũng phải đưa ra, bởi pháp lý cần những cơ sở thực tiễn, vì vậy vẫn phải kiện với một phiên tòa chính thức.
Cơ hội thưa kiện sẽ đến khi hội đủ ba điều kiện thứ nhất là khi truyền thông lên đến cao trào của nó, thứ hai là khi đủ tự tin với các bằng chứng của mình có ta có thể thắng chắc trong một phiên tòa công bằng, thứ ba là các hoạt động ngoại giao nhận được những sự ủng hộ đủ để giữ phiên tòa được công bằng.
Không phải muốn kiện là kiện, nhưng theo sự quan sát của tôi thì cơ hội chín muồi không còn xa nữa, dĩ nhiên là cũng chỉ nhìn hiện tượng đoán bản chất, nhìn hình thức đoán nội dung thôi vì tôi không chung mâm với bộ chính trị. Một khi đã tuyên bố "không đổi chủ quyền lấy hữu nghị viễn vông" thì trong tay ắt hẳn đã có một vài tấc sắt bén nhọn rồi.
Một khi đã kiện rồi thì phải chờ, chờ cơ hội quân sự. Chúng ta biết, ngoại giao đơn thuần không bao giờ mang lại kết quả cuối cùng nếu một bên không có thiện chí, còn luật quốc tế nói chung là chỉ có chế định không có chế tài, Trung Quốc thì chưa chắc đã chịu lên tòa chứ chưa nói đến sẽ trao trả nếu có phán quyết.
Tôn Tử nói: Chiến tranh là đại sự của quốc gia, quan hệ tới việc sống chết của nhân dân, sự mất còn của nhà nước, không thể không khảo sát nghiên cứu cho thật kỹ. Chiến tranh là điều cực chẳng đã, nhưng chủ quyền thì không thể nhân nhượng, trước sau gì cũng phải dùng tới quân sự để giành Hoàng Sa nhưng phải tính toán kỹ lưỡng, chờ đợi cơ hội.
Tôn Tử lại có nói: Trước kia người giỏi dụng binh đánh giặc, trước tiên phải không để bại, sau mới đánh bại kẻ địch. không để bại là do mình, giành chiên thắng là tại địch. Thế nên người giỏi dụng binh có thể làm kẻ địch không thắng được mình, nhưng không chắc làm kẻ địch bị ta đánh thắng. Cho nên nói thắng lợi có thể dự kiến nhưng không nhất thiết đòi hỏi được (tối nghĩa quá:"thắng khả tri,i nhi bất khả vi") không thể thắng được thì thủ, có thể thắng được thì công. Thủ là do chưa đủ điều kiện, công là khi điều kiện có thừa.
Tôn Tử vốn người Trung Quốc, trích lời Tôn Tử chẳng phải bởi chúng ta không nghĩ ra được cái gì hay, chẳng phải có ý lấy gậy ông đạp lưng ông mà bởi những phát biểu của ông vượt ra khỏi ranh giới một quốc gia, nó được xem là tài sản chung của nhân loại.
Cứ theo đó mà làm, chưa đủ điều kiện thì thủ, chúng ta tích lũy sức mạnh quân sự của mình và cơ hội tiến quân sẽ đến khi tương quan cho thấy ta có thể chiếm lại và đặc biệt là có thể giữ được. Nếu 2 bước đi đầu tiên của chúng ta (ngoại giao, pháp lý) cho kết quả khả quan thì việc chờ đợi của chúng ta sẽ không mất mát gì ngoài thời gian, bởi khi đó việc ta chiếm lại Hoàng Sa không còn phụ thuộc về mặt thời điểm nữa, lúc nào ta cũng năm lẽ phải và chính nghĩa trong tay không phải e sợ để lâu phân trâu hóa bùn nữa.
Thế giới đầy biến động, cơ hội chắc chắn sẽ đến, mâu thuẫn nội tại trong lòng Trung Quốc không phải là loại mâu thuẫn có thể dung hòa, nền kinh tế móng yếu tường to không bền được mãi, Trung Quốc trỗi dậy không phải là mang hòa bình như họ nói và các nước khác cũng không cả tin như vậy. Chúng ta cũng có thể tự thay đổi cục diện khi mạnh lên mỗi ngày.
Biết người biết ta trăm trận trăm thắng, soi lại lịch sử Trung Quốc, điểm yếu của họ không phải là mấy thứ linh tinh mà các ông giáo sư tiến sỹ hay phân tích như "không có đạo lý lẫn pháp lý", "sợ Việt Nam", "Hải quân TQ lộ điểm yếu ..." ... vân vân ...
Nếu có giao tranh, một vài điểm có thể kể đến là tinh thần chiến đấu dưới sự tác động của chính sách "mỗi gia đình một con", kinh nghiệm chiến đấu khi quân đội Trung Quốc đã hơn 60 năm chưa đánh đấm gì (ngoại trừ chiến tranh biên giời V-T 1979), tầm tác chiến ...
Còn nói về cơ hội, chúng ta biết Trung Quốc là đất nước có rất rất nhiều cuộc nội chiến trong lịch sử, Trung Quốc cũng là nước chứng kiến rất nhiều cuộc thịnh suy của chính mình, hiện tại, những mâu thuẫn không thể dung hòa, những vết nứt trên móng nền kinh tế, sự phân hóa giàu nghèo ... Lịch sử dường như là những vòng xoắn ốc.
Cũng trong lịch sử, đối chiếu sử Việt Nam và Trung Quốc ta thấy sõ sự thịnh suy tác động lẫn nhau rất nhiều. Ngô Quyền nhân loạn Ngũ Đại Thập Quốc mà giành lại chủ quyền, Lê Đại Hành được thế mạnh mà quấy phá biên cương người hòng giữ biên cương của mình, Lý Thường Kiệt nhân triều Tống hủ hoại mà chẳng giữ sự e dè ...
Luận nhiều thì kết là "vẫn phải chờ" nhưng "chờ cơ hội" thì khác với "chờ một ngày nào đó". Chờ đợi có phương hướng khác với chờ đợi vô phương khơi khơi.
Tuesday, July 1, 2014
"THOÁT TRUNG" HAY THOÁT KHỎI SỰ TRÌ TRỆ CỦA CHÍNH MÌNH?
Có một bài viết dưới dạng phỏng vấn ông tiến sỹ Nguyễn Nhã, được đăng trên VNExpress.net và một số báo khác với tiêu đề: ‘Cơ hội thoát Trung ngàn năm có một’. Bài viết đã thu hút được khá nhiều sự chú ý của dư luận mà đa số theo tôi thấy là đồng tình, cái đồng tình này rất dễ hiểu bởi dư luận vốn mang sẵn tâm lý "bài Trung", "ghét Trung" thì khi có một cái "tương tư" như vậy ("thoát Trung") dễ dàng "gật cái rụp" không cần nghĩ nhiều.
Dù chỉ là một bài báo thôi nhưng tôi cho đó là vấn đề nghiêm trọng, nhất là khi sau bài báo ấy lại nổi lên một phong trào mà tạm gọi là "Thoát Trung Luận". Vì sao tôi cho đó là vấn đề nghiêm trọng? Vì như chúng ta biết tư duy ảnh hưởng đến hành động, mà tư duy "thoát Trung" và tư duy "đấu tranh với Trung" thì khác nhau hoàn toàn.
"Thoát" là hành động sử dụng một hoặc tổng hợp nhiều phương cách nhằm vượt ra khỏi hiện trạng bị kìm kẹp. Bởi vì ở trong vòng kìm kẹp nên chủ thể thường có phản ứng vùng vẫy một cách thụ động hoặc bấu víu vào bất cứ thứ gì có thể.
Nếu chúng ta mang tư duy "thoát" thì cũng dễ dẫn đến các hành động thường thấy khi nghĩ mình đang trong vòng kìm kẹp tức là "có phản ứng vùng vẫy một cách thụ động hoặc bấu víu vào bất cứ thứ gì có thể", đó mà một điều vô cùng tai hại trong hoan cảnh của chúng ta bây giờ. Còn "đấu tranh" là hành động đương đầu và tìm phương cách vượt qua các vấn đề đang gặp phải một cách chủ động. Đó mới là tư duy xuyên suốt mà chung ta cần.
Lại nói về bài phỏng vấn ông Nhã được đăng trên các báo, ngay tiêu đề đã có vấn đề "Cơ hội thoát Trung ngàn năm có một", phải chăng cả ngàn năm qua Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung Quốc để bây giờ ông Nhã nhìn thấy cơ hội "thoát"? Đừng làm Lê Lợi, Quang Trung phải buồn, vì họ chỉ sống cách chúng ta mấy trăm năm thôi.
Cái gọi là "thoát Trung" chỉ xứng đáng 2 lần có mặt trong lịch sử Việt Nam ta thôi, lần thứ nhất là một ngàn năm Bắc thuộc, lần thứ hai là hai mươi mốt năm dưới ách đô hộ giặc Minh còn lúc này VN là một đất nước độc lập toàn vẹn lãnh thổ, có nhà nước, có pháp luật và được các quốc gia khác công nhận.
Người ta (ông Nhã) lý luận rằng "thoát Trung" ở đây là "thoát khỏi sự lệ thuộc về mặt kinh tế", khi được hỏi "lệ thuộc về mặt kinh tế như thế nào?", thì người ta (những người theo chủ thuyết Thoát Trung Luận) đáp rằng vì kim ngach xuất nhập khẩu của Việt Nam và Trung Quốc quá lớn. Rằng Việt Nam lệ thuộc vào những nguyên vật liệu và hàng hóa nhập từ Trung Quốc, rằng Việt Nam nhập rất nhiều hàng vào Trung Quốc.
Quái lạ, nhập khẩu hàng của Trung Quốc nói Việt Nam lệ thuộc đã đành, Việt Nam xuất khẩu đi cũng cho là bị lệ thuộc thì Tôn Đại Thánh cũng chào thua. "Lệ thuộc" được định nghĩa là "theo một ai đó vì bị cưỡng ép hoặc vì họ nắm giữ sự tồn vong của mình". Trên cơ sở định nghĩa đó, lệ thuộc trong kinh tế xuất hiện khi sự khan hiếm hạn chế hành vi lựa chọn của các chủ thể kinh tế ở mức cao nhất, nói trắng ra là độc quyền, nghĩa là ta buộc phải nhập hàng của họ (vì họ độc quyền mặt hàng này) và cũng buộc phải xuất hàng cho họ (vì họ là thị trường duy nhất).
Việt Nam hoàn toàn có thể chọn nhập hàng "thay thế" từ một đối tác cung cấp khác, cũng hoàn toàn có thể tìm kiếm thị trường xuất khẩu thay thế thị trường Trung Quốc, điều rõ ràng là không ai bắt ép chung ta phải giao dịch và giao dịch khối lượng lớn với Trung Quốc cả.
Việc xuất nhập khẩu với Trung Quốc đơn giản là hành vi lựa chọn tự nhiên trong kinh tế mà thôi, chúng cần nguyên liệu giá rẻ, nhập của Trung Quốc, chúng ta cần thị trường gần và dễ tính chúng ta xuất khẩu sang Trung Quốc. Còn vì sao chúng ta cần hàng giá rẻ, nguyên liệu giá rẻ, vì sao chúng ta cần thị trường gần, thị trường dễ tính thì câu trả lời nằm ở trình độ phát triển kinh tế của chúng ta.
Đâu đó cũng nổi lên những lý lẽ đại loại như "thỉnh thoảng Trung Quốc không chịu nhập hàng, các xe chở nông sản ùn ứ ở của khẩu, bà con nông dân điêu đứng" hay "Trung Quốc đang cố thâm nhập và lũng đoạn kinh tế Việt Nam".
Khi Mỹ áp thuế chống bán phá giá với các mặt hàng thủy sản và các mặt hàng khác thì Việt Nam cũng điêu đứng vậy thôi, Việt Nam đang lệ thuộc Mỹ chứ?. Khi Việt Nam gia nhập WTO thì cũng phải đối mặt với việc các công ty đa quốc gia sẽ dở miêng cá lớn nuốt cá bé, Việt Nam sẽ ra khỏi WTO chứ?
Câu chuyện làm ăn kinh tế là câu chuyện của lợi nhuận và rủi ro, chúng ta không thể đòi hỏi lợi nhuận mà không chấp nhận rủi ro được. Rủi ro là tất yếu, quan trọng là hạn chế và xử lý nó như thế nào thôi. Âm mưu lũng đoạn thì cũng là rủi ro vậy, đừng nghĩ ai cũng nai tơ để mình ngồi lên đầu người ta.
Trung Quốc làm bậy ngoài biển đáng lẽ ta tập trung đáp trả tương thích trên biển thì ta lại đòi nghỉ làm ăn buôn bán, chẳng khác nào ăn vạ cả, nghe buồn cười lắm. Riêng chuyện kinh tế, nếu thấy làm ăn với Trung Quốc không có lợi, có khả năng tìm được đối tác khác thị trường khác tốt hơn, bền vững hơn thì cứ thế mà tiến hành, còn như xét thấy làm ăn có lợi thì cứ làm ăn, miệng mồm hét "bài" rồi "thoát" nghe ấu trĩ vô cùng.
Cứ làm ăn với nhau thì gọi là "lệ thuộc" thì Việt Nam lệ thuộc hàng chục nước, và có "thoát Trung" thì cũng sa vào vòng tay êm ái của nước khác mà thôi. Tái khẳng định là Việt Nam chẳng có lệ thuộc gì Trung Quốc mà phải thoát cả, cái mà Việt Nam cần thoát là gì?
Thứ nhất là thoát cái tư duy nhược tiểu cứ hở chút thì tự coi mình là con khỉ trong lồng nhà người ta, với cái tư duy đó thì chẳng bao giờ chúng ta thoát ra được ai cả, không ngã bên này thì cũng nghiêng bên khác. Muốn thành cường quốc thì phải tư duy như cường quốc đã.
Thứ hai là thoát khỏi sự trì trệ của chính mình, trong kinh tế có khái niệm "phân khúc thị trường" (cho cả cung và cầu), bởi vì sự trì trệ của chính chúng ta nên mới phải chọn "phân khúc thấp" mà anh hàng xóm quý hóa của chúng ta vô tình làm sao lại là vua của phân khúc thị trường đó.
Tóm lại, từ bỏ ngay cái ý nghĩ "thoát Trung" ấu trĩ đi, với cái tư duy "thoát" ấy, mà không ít người đã đòi bấu vào Mỹ, rồi 10, 20 năm nữa ông Nhã lại phải viết bài "cơ hội ngàn năm để thoát Mỹ"
Dù chỉ là một bài báo thôi nhưng tôi cho đó là vấn đề nghiêm trọng, nhất là khi sau bài báo ấy lại nổi lên một phong trào mà tạm gọi là "Thoát Trung Luận". Vì sao tôi cho đó là vấn đề nghiêm trọng? Vì như chúng ta biết tư duy ảnh hưởng đến hành động, mà tư duy "thoát Trung" và tư duy "đấu tranh với Trung" thì khác nhau hoàn toàn.
"Thoát" là hành động sử dụng một hoặc tổng hợp nhiều phương cách nhằm vượt ra khỏi hiện trạng bị kìm kẹp. Bởi vì ở trong vòng kìm kẹp nên chủ thể thường có phản ứng vùng vẫy một cách thụ động hoặc bấu víu vào bất cứ thứ gì có thể.
Nếu chúng ta mang tư duy "thoát" thì cũng dễ dẫn đến các hành động thường thấy khi nghĩ mình đang trong vòng kìm kẹp tức là "có phản ứng vùng vẫy một cách thụ động hoặc bấu víu vào bất cứ thứ gì có thể", đó mà một điều vô cùng tai hại trong hoan cảnh của chúng ta bây giờ. Còn "đấu tranh" là hành động đương đầu và tìm phương cách vượt qua các vấn đề đang gặp phải một cách chủ động. Đó mới là tư duy xuyên suốt mà chung ta cần.
Lại nói về bài phỏng vấn ông Nhã được đăng trên các báo, ngay tiêu đề đã có vấn đề "Cơ hội thoát Trung ngàn năm có một", phải chăng cả ngàn năm qua Việt Nam bị lệ thuộc vào Trung Quốc để bây giờ ông Nhã nhìn thấy cơ hội "thoát"? Đừng làm Lê Lợi, Quang Trung phải buồn, vì họ chỉ sống cách chúng ta mấy trăm năm thôi.
Cái gọi là "thoát Trung" chỉ xứng đáng 2 lần có mặt trong lịch sử Việt Nam ta thôi, lần thứ nhất là một ngàn năm Bắc thuộc, lần thứ hai là hai mươi mốt năm dưới ách đô hộ giặc Minh còn lúc này VN là một đất nước độc lập toàn vẹn lãnh thổ, có nhà nước, có pháp luật và được các quốc gia khác công nhận.
Người ta (ông Nhã) lý luận rằng "thoát Trung" ở đây là "thoát khỏi sự lệ thuộc về mặt kinh tế", khi được hỏi "lệ thuộc về mặt kinh tế như thế nào?", thì người ta (những người theo chủ thuyết Thoát Trung Luận) đáp rằng vì kim ngach xuất nhập khẩu của Việt Nam và Trung Quốc quá lớn. Rằng Việt Nam lệ thuộc vào những nguyên vật liệu và hàng hóa nhập từ Trung Quốc, rằng Việt Nam nhập rất nhiều hàng vào Trung Quốc.
Quái lạ, nhập khẩu hàng của Trung Quốc nói Việt Nam lệ thuộc đã đành, Việt Nam xuất khẩu đi cũng cho là bị lệ thuộc thì Tôn Đại Thánh cũng chào thua. "Lệ thuộc" được định nghĩa là "theo một ai đó vì bị cưỡng ép hoặc vì họ nắm giữ sự tồn vong của mình". Trên cơ sở định nghĩa đó, lệ thuộc trong kinh tế xuất hiện khi sự khan hiếm hạn chế hành vi lựa chọn của các chủ thể kinh tế ở mức cao nhất, nói trắng ra là độc quyền, nghĩa là ta buộc phải nhập hàng của họ (vì họ độc quyền mặt hàng này) và cũng buộc phải xuất hàng cho họ (vì họ là thị trường duy nhất).
Việt Nam hoàn toàn có thể chọn nhập hàng "thay thế" từ một đối tác cung cấp khác, cũng hoàn toàn có thể tìm kiếm thị trường xuất khẩu thay thế thị trường Trung Quốc, điều rõ ràng là không ai bắt ép chung ta phải giao dịch và giao dịch khối lượng lớn với Trung Quốc cả.
Việc xuất nhập khẩu với Trung Quốc đơn giản là hành vi lựa chọn tự nhiên trong kinh tế mà thôi, chúng cần nguyên liệu giá rẻ, nhập của Trung Quốc, chúng ta cần thị trường gần và dễ tính chúng ta xuất khẩu sang Trung Quốc. Còn vì sao chúng ta cần hàng giá rẻ, nguyên liệu giá rẻ, vì sao chúng ta cần thị trường gần, thị trường dễ tính thì câu trả lời nằm ở trình độ phát triển kinh tế của chúng ta.
Đâu đó cũng nổi lên những lý lẽ đại loại như "thỉnh thoảng Trung Quốc không chịu nhập hàng, các xe chở nông sản ùn ứ ở của khẩu, bà con nông dân điêu đứng" hay "Trung Quốc đang cố thâm nhập và lũng đoạn kinh tế Việt Nam".
Khi Mỹ áp thuế chống bán phá giá với các mặt hàng thủy sản và các mặt hàng khác thì Việt Nam cũng điêu đứng vậy thôi, Việt Nam đang lệ thuộc Mỹ chứ?. Khi Việt Nam gia nhập WTO thì cũng phải đối mặt với việc các công ty đa quốc gia sẽ dở miêng cá lớn nuốt cá bé, Việt Nam sẽ ra khỏi WTO chứ?
Câu chuyện làm ăn kinh tế là câu chuyện của lợi nhuận và rủi ro, chúng ta không thể đòi hỏi lợi nhuận mà không chấp nhận rủi ro được. Rủi ro là tất yếu, quan trọng là hạn chế và xử lý nó như thế nào thôi. Âm mưu lũng đoạn thì cũng là rủi ro vậy, đừng nghĩ ai cũng nai tơ để mình ngồi lên đầu người ta.
Trung Quốc làm bậy ngoài biển đáng lẽ ta tập trung đáp trả tương thích trên biển thì ta lại đòi nghỉ làm ăn buôn bán, chẳng khác nào ăn vạ cả, nghe buồn cười lắm. Riêng chuyện kinh tế, nếu thấy làm ăn với Trung Quốc không có lợi, có khả năng tìm được đối tác khác thị trường khác tốt hơn, bền vững hơn thì cứ thế mà tiến hành, còn như xét thấy làm ăn có lợi thì cứ làm ăn, miệng mồm hét "bài" rồi "thoát" nghe ấu trĩ vô cùng.
Cứ làm ăn với nhau thì gọi là "lệ thuộc" thì Việt Nam lệ thuộc hàng chục nước, và có "thoát Trung" thì cũng sa vào vòng tay êm ái của nước khác mà thôi. Tái khẳng định là Việt Nam chẳng có lệ thuộc gì Trung Quốc mà phải thoát cả, cái mà Việt Nam cần thoát là gì?
Thứ nhất là thoát cái tư duy nhược tiểu cứ hở chút thì tự coi mình là con khỉ trong lồng nhà người ta, với cái tư duy đó thì chẳng bao giờ chúng ta thoát ra được ai cả, không ngã bên này thì cũng nghiêng bên khác. Muốn thành cường quốc thì phải tư duy như cường quốc đã.
Thứ hai là thoát khỏi sự trì trệ của chính mình, trong kinh tế có khái niệm "phân khúc thị trường" (cho cả cung và cầu), bởi vì sự trì trệ của chính chúng ta nên mới phải chọn "phân khúc thấp" mà anh hàng xóm quý hóa của chúng ta vô tình làm sao lại là vua của phân khúc thị trường đó.
Tóm lại, từ bỏ ngay cái ý nghĩ "thoát Trung" ấu trĩ đi, với cái tư duy "thoát" ấy, mà không ít người đã đòi bấu vào Mỹ, rồi 10, 20 năm nữa ông Nhã lại phải viết bài "cơ hội ngàn năm để thoát Mỹ"
Subscribe to:
Posts (Atom)