Nam Tấn Vương dân quân đi đánh hai thôn Đường Nguyễn bị phục binh bắn nó mà chết, Ngô Xương Xí lên ngôi, nhân Xí hèn yếu bọn Lý Bình Xử bàn nhau phế vua, vua sợ chạy vào đất Bình Kiều thuộc Ái Châu, Đinh Bộ Lĩnh cả giận kéo quân ra hỏi tội, giết được bọn ấy rồi bèn rút đi.
Trên đường gặp Chân Lưu đại sư, Lĩnh theo sư và thành Đại La, sư hỏi :
- Thế chủ thấy khí số nhà Ngô còn chăng ?
- Thầy hỏi, con xin được bày hết tâm can mà nói, dẫu cho khí số nhà Ngô chưa tận thì cũng chẳng còn gánh được vận nước, nước ngàn năm mới có lại, chẳng thể sống dựa vào khí số của nhà nào.
- Việc lớn trước mắt là gì ?
- Thưa thầy, Tấn Vương mất, vua mới bỏ ngôi mà đi, các sứ quân xưa vì còn vua mà chưa tỏ tâm cơ, nay lại dấy động, ai nấy hùng cứ một phương, nước chia năm sẻ bảy, việc lớn lúc này là cần thống nhất lại.
- Thế chủ còn khó chổ nào ?
- Thưa thầy, chí đã lập, lực đã sẵn, chỉ thiếu danh để thuận đạo thuận lòng.
- Chổ ấy ta sẽ vì thế chủ mà giải, cứ an tâm tính việc lớn, 26 năm qua thế chủ không vì cái lợi nhỏ mà gây hại lớn thì nay hãy vì cái lợi lớn mà quên đi cái hại nhỏ. Đó là Thiện vậy.
Trong lòng Đinh Bộ Lĩnh từ khi kéo quân từ Hoa Lư ra Cổ Loa đến nay luôn có một nút thắt khó gỡ, mở nút thắt ấy ngoại Khuông Việt đại sư thật khó ai đương nổi, vừa khởi sự đã có duyên gặp sư, nay lại được nghe lời ấy chẳng biết dùng từ nào mà tỏ nỗi vui.
Thiền sư bái biệt Lĩnh rời thành Đại La, hẹn với Lĩnh trong vòng 3 tháng sẽ có tin, Lĩnh vững dạ, hội các tướng vào thành, Lĩnh nói:
- Xưa Ngô Vương từ chổ này cùng các tướng luận kế chống giặc, nay ta xem nước chẳng còn vua, các sứ quân nổi lên ngày một mạnh đều nhìn vào chổ trống ấy, rồi đây sẽ có một cuộc chiến tương tàn đẫm máu, muốn bớt đau thương trừ khi có người đứng ra thống nhất lại, ta lập chí ấy cho mình, nên hôm nay cũng chổ này muốn cùng các ngươi tính kế, các ngươi nghĩ sao ?
- Chúng tôi nguyện theo chủ tướng, vì đại nghiệp thống nhất đất nước mà sinh tử chẳng ngại. - Các tướng cùng đáp -
- Tốt lắm.
Lúc này, Lĩnh lấy trong tay áo một tấm bản đồ đã chuẩn bị từ trước trải lên mặt bàn, rồi gật đầu với Lưu Cơ, Lưu Cơ vừa chỉ lên bản đồ vừa nói:
- Từ khi Tấn Vương mất, các sứ quân lại nổi lên, hiện tại có 12 sứ quân lớn, Ngô Xương Xi giữ Bình Kiều ở Ái Châu, Ngô Nhật Khánh xưng là Ngô Lãm Công giữ Đường Lâm, Đỗ Cảnh Thạc tự xưng là Đỗ Cảnh Công, giữ Đỗ Động Giang, Phạm Bạch Hổ tự xưng là Phạm Phòng Át, giữ Đằng Châu, Kiều Công Hãn tự xưng Kiều Tam Chế, giữ Phong Châu - Bạch Hạc , Nguyễn Khoan tự xưng Nguyễn Thái Bình, giữ Tam Đái, Nguyễn Siêu tự xưng là Nguyễn Hữu Công, giữ Tây Phù Liệt, Nguyễn Thủ Tiệp tự xưng là Nguyễn Lệnh Công, giữ Tiên Du, Kiều Thuận tự xưng là Kiều Lệnh Công, giữ Hồi Hồ - Cẩm Khê, Lý Khuê tự xưng là Lý Lãng, giữ Siêu Loại, Trần Lãm tự xưng là Trần Minh Công, giữ Bố Hải Khẩu - Kỳ Bố, Lã Đường tự xưng là Lã Tá Công, giữ Tế Giang.
Bộ Lĩnh lại hỏi :
- Lực lượng thế nào ?
- Ngô Xương Xí có khoảng gần 1 vạn binh, Đỗ Cảnh Thạc hơn 1 vạn, Nguyễn Khoan, Nguyễn Siêu, Nguyễn Thủ Tiệp tổng cộng khoảng một vạn 5 ngàn binh, Kiều Thuận, Kiều Công Hãn tổng cộng một vạn 2 ngàn binh, các sứ còn lại đều trên dưới 5 ngàn binh. Các sứ đều cho xây thành đắp lũy rất kiên cố.
- Muốn phục 12 sứ quân này, các ngươi có kế hoạch gì hay ?
Trịnh Tú khi ấy đứng ra đáp :
- Trong 12 sứ quân Nguyên Khoan, Nguyễn Thủ Tiệp, Nguyễn Siêu vốn là 3 anh em, chia nhau đóng 3 nơi tạo thế chân vạc, Nguyễn Siêu là sứ mạnh nhất, Kiều Công Hãn, Kiều Thuận vốn là hai anh em, Kiều Thuận đóng ngay sau anh mình tạo thế ỷ dốc, họ Kiều vốn là thế lực lớn mạnh từ lâu, cũng thế, họ Đỗ ở Đỗ Động Giang của Đỗ Cảnh Thạc cũng là một thế lực lâu đời, ba nhóm sứ quân này từ sau khi Tấn Vương mất không ngừng mộ quân xây dựng lực lượng, đánh lấn các nơi khác, mục đích của họ chính là xưng hùng bá vậy. Các sứ Ngô Xương Xí, Ngô Nhật Khánh tuy muốn khôi phục nhà Ngô nhưng chỉ được danh mà không có lực. Lý Khuê, Lã Đường là loạn quân địa phương lớn mạnh mà thành, quân ấy không có chí lớn. Trần Lãm tuy mạnh, nhiều tiềm lực nhưng chỉ muốn an thân, xưa nay chưa đánh ra ngoài. Phạm Bạch Hổ xưng tên chỉ vì nương theo thời thế. Nay ta vì những khác biệt như thế mà có cách đối đãi khác nhau, không lạm dụng việc dùng binh.
- Trịnh Tú nói đúng lắm, ta xem Bố Hải Khẩu - Kỳ Bố thuộc đất Thái Bình tiếp giáp với đất Hoa Lư, đất ấy giàu tiềm lực kinh tế, lại có thể làm bàn đạp để tiến đánh các nơi, gặp biến có thể rút về Hoa Lư, trước hết ta phải thu phục Trần Lãm để tạo thế tăng lực, sau thu phục Ngô Xương Xí, Ngô Nhật Khánh để có danh cho thuận đạo. Đó là chổ tiên cơ ai nắm được trước thì có được lợi thế. - Bộ Lĩnh nói -
- Tôi có kế có thể thu phục Trần Lãm. - Phạm Hạp chắp tay thưa -
- Kế ấy thế nào ?
- Tấn Vương gặp nạn Đường - Nguyễn mà chết, nay ta đánh hai thôn ấy trước là báo thù cho vua, sau là tạo thanh thế, hai thôn ấy vốn gần với chổ Trần Lãm, Trần Lãm trước có qua lại với ông nội tôi Phạm Lệnh Công, ông ta tuy an phận nhưng cũng là kẻ thức thời, nay thấy ta trước trị bọn Xử, Hựu, Huy sau đánh Đường - Nguyễn báo thù cho vua lại tỏ được oai nghi tất ông ta vì đó mà theo.
- Đánh Đường - Nguyễn nên thế nào ? - Bộ Lĩnh lại hỏi -
- Hai thôn ấy ỷ vào thế gần rừng của mình thoắt ẩn thoắt hiện mà tiêu hao sinh lực địch, nhờ đó mà lui quân chinh phạt bao năm qua, nay ta nên dùng kế lừa hổ xuống núi, dụ rắn ra khỏi hang mà đánh. - Phạm Hạp lại thưa -
- Tốt lắm ! Nói nhiều sự không tự thành, các tướng về cho quân sỹ chuẩn bị và nghỉ ngơi, ngày mai lên đường về Thái Bình.
- Rõ.
Đầu mùa xuân 966, Đinh Bộ Lĩnh dẫn quân từ Đại La ra Thái Bình đánh hai thôn Đường - Nguyễn, từ đây bắt đầu đại nghiệp thống nhất đất nước, Ngô Vương khi còn sống là một tướng tài ba, là một vị minh quân, khi mất đi tài đức của ông ảnh hưởng đến mấy chục năm sau, nay thời đại của Ngô Vương tạm nhường cho Đinh Bộ Lĩnh.
Hết Tập I.
Friday, November 8, 2013
Thursday, November 7, 2013
Loạn Thế Lộ Chân Long, hồi thứ 9
Lại nói Thiên Sách Vương nhuốn bệnh mà chết, Nam Tấn Vương nhiếp chính đem quân đi đánh khắp nơi hòng an cảnh hổn loạn do vua anh để lại. Đinh Bộ Lĩnh thấy Tấn Vương có tâm lại biết nghe lời phải cho đó là chổ hy vọng cuối cùng của nhà Ngô nên ở Hoa Lư chẳng động binh mà dùng kế hay giúp thiên hạ được thái bình.
Nhưng kế hay vẫn chưa vẹn, khi Tấn Vương muốn nối lấy đức Ngô Vương nhưng trí dũng của vua lại không đủ, từ thời Sách Vương hai thôn Đường, Nguyễn ở Thái Bình đã dấy loạn, các vua thay nhau đánh mà không được.
Năm 965 vua lại điểm binh cùng Dương Cát Lợi đi đánh hai thôn ấy, Vua sai Cát Lợi dẫn binh đánh vào thôn Nguyễn còn mình cũng tự câm quân đánh vào thôn Đường. Khi Vua đến chẳng thấy trai tráng trong thôn đâu cả, chỉ còn lại phụ nữ, trẻ em và người già, bèn hội quân với Cát Lợi, Lợi tâu :
- Hai thôn này nằm ở gần khu rừng lớn, tiện cho việc ẩn nấp, nay ban ngày ta cho lính vào lùng sục tìm kiếm, đêm đến canh gác nghiêm ngặt phòng quân ấy đánh lén.
Vua nghe kế ấy, ban ngày cho lính chia nhau mỗi nhóm 10 người tiến sâu vào rừng tìm kiếm, độ hơn 10 ngày nhưng chẳng kết quả gì, khi ấy quân sỹ đã chín phần nản chí, canh phòng thiếu nghiêm chẩn lại lơi lỏng phép tắc thường vào hai thôn ấy mà quấy đàn bà.
Ngày thứ 11, đang lúc ban ngày, trời nóng bức, quân tướng đều trốn hết vào trại tìm mát, bỗng đâu có 1000 quân kéo từ rừng ra dùng hỏa công mà đánh úp quân triều đình, doanh trại bị cháy, quân tướng hoảng hốt chạy như ong vỡ tổ, Cát Lợi dẫn vua phá vòng vây ra mà chạy. Nào ngờ chạy chưa được xa lại rơi vào ổ phục kích, quân Đường -Nguyễn từ trong các bụi cây rậm dùng nỏ mà bắn ra, binh lính triều đình chết vô kể, vua bị trúng một tên vào ngực ngã khỏi ngựa, Cát Lợi cắp lấy vua chạy thêm mấy dặm không thấy bị truy đuổi nữa mới dừng, lúc này vua đã chết.
Nam Tấn Vương mất năm 34 tuổi, Ngô Xương Xí nối ngôi, lúc này Xí mới vừa 18, vọn Lý Bình Xử mấy năm qua không được Tấn Vương tin dùng nhờ thế Xí mà không bị mất chức, nay Tấn Vương mất chúng khing vua còn trẻ, lại hèn yến nên trên triều thướng át cái oai của vua. Một hôm bọn ấy bàn với nhau, Xử nói:
- Ta với các ngươi đã làm quan 5 đời vua, nay Xí hèn yếu, ta nên nhân đó phế đi tự mình làm vua hưởng phúc dài lâu.
Bọn Kiều Tri Hựu, Dương Huy nghe thế sợ lắm, bàn lui :
- Ông không nhớ lấy bài học của Dương Tam Kha sao ? Kha là cậu của Xương Văn, Xương Ngập nên mới được toàn mạng, còn chúng ta lỡ sự không thành hay các tướng kéo về kinh hỏi tội thì mất mạng ngay.
- Dương Tam Kha khi trước hành sự chưa đủ tàn nhẫn nên mới có cơ sự ấy thôi, nay ta phế vua rồi giết đi thì hậu họa không còn.
Nghe lời ấy bọn Hựu, Huy chẳng an tâm được phần nào lại càng sợ thêm, nhưng chẳng dám cãi lời Xử, bèn cùng Xử lên kế hoạch hành động.
Chúng đâu biết rằng có một nha tướng nghe được những lời đó liền đến báo với Xương Xí, Xí khi ấy hãy còn chơi đùa trong hậu cung, nha tướng ấy trách :
- Giò này mà vua còn có tâm chơi đùa sao ?
- Có chuyện gì ? - Vua hỏi lại -
- Bọn Lý Bình Xử đang bàn nhau phế vua, sau khi phế thì giết đi để trừ hậu họa.
Vua lúc này sợ lắm, hồn phách lên tận mây xanh, lát sau định thần lại được mới hỏi gấp :
- Bây giờ ngươi bảo ta nên làm sao ?
- Chỉ còn cách trốn đi thôi, trong triều bây giờ thế của Xử là lớn nhất chẳng cầu ai được, các tướng Cảnh Thạc, Cát Lợi từ sau khi Tấn Vương mất đã ra đóng ngoài thành rồi.
- Nhưng trốn đi đâu ?
- Bình Kiều, Ái Châu đất ấy là đất cũ của Ngô Vương, tất có chổ cho vua.
Xí nghe theo lời ấy, ngay trong đêm lẻn ra ngoài cung, cùng một số binh sĩ chạy về Ái Châu.
Lý Bình Xử biết chuyện vua chạy khỏi cung, đang đinh làm lễ đăng cơ tự mình làm vua thì nghe tin đại quân của Đinh Bộ Lĩnh đang kéo ra Cổ Loa, từ ngày từ Trường Yên trở về bụng Xử vẫn chưa hết sợ Lĩnh, nay nghe tin kéo quân ra, biết chẳng chống nổi, liền cùng nhau theo hướng bắc mà chạy. Vừa vượt sông Hồng chưa kịp thở, bỗng đâu có quân lính kéo đến bọn Xử chẳng kịp trở tay đều bị chém cả.
Bộ Lĩnh kéo quân vào Cổ Loa, tìm không thấy Xử, Hựu, Huy thì giận lắm, sai Nguyễn Bặc, Đinh Điền đuổi theo, hai tướng vừa quay lưng thì có hai người trẻ tuổi, nhìn thế bộ thì có thể đoán là con nhà võ, hai người thi lễ với Bộ Linh rồi nói :
- Tôi là Phạm Hạp, còn đây là em tôi Phạm Cự Lang, chúng tôi đến ra mắt Đinh tướng quân, đây là chút quà ra mắt. - Nói xong ném xuống một bọc bết máu. -
- Thì ra là hậu nhân của Phạm Lệnh Công và Phạm Bạch Hổ, quả nhiên khí phách bất phàm, cái bọc này là gì vậy?
- Thưa, đó là đầu của bọn tặc thần Xử, Hựu Huy.
- Tốt quá ! ta còn sợ chúng chạy mất, không biết sao hả cơn giận trong lòng.
- Đinh tướng quân, vua nay bỏ ngôi, ngai tính thế nào ? - Phạm Hạp hỏi -
- Điều đó ta thật nói chưa tiện, chỉ có thể cho các ngươi biết rằng ta 26 năm ở Hoa Lư, nay chẳng phải vì một cơn giân nuốt không trôi mà kéo quân ra đây.
- Lời ít, xin dám cả gan được nghĩ nhiều, anh em tôi xin được theo chủ tướng mà lập chí ấy.
- Các ông hiểu được thì tốt.
Lúc đó Lưu Cơ đứng ra nói :
- Vua mới bỏ ngôi mà đi, ta ở lâu trong thành Cổ Loa này tất nhiều thị phi không đáng có, xin chủ tướng liệu tính.
Lĩnh đáp:
- Lời ấy phải lắm.
Đinh Bộ Lĩnh cùng quân tướng lưu ở Cổ Loa 10 ngày thì cũng nhau kéo đi, Lĩnh đi trước, các tướng Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Lưu Cơ, Trịnh Tú, Phạm Hạp, Phạm Cự Lang đi ngay sau, lúc ngang qua thành Đại La, giữa đường có một vị nhà sư ngồi tọa thiền chắn lấy lối của Lĩnh. Trông ra thì chính là Chân Lưu đại sư của chùa Khai Quốc.
Chân Lưu đại sư tên lúc còn ngoài đời là Ngô Xương Tỷ, là con cả của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, là anh của Ngô Xương Xí, năm 944 khi Dương Tam Kha phế Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Ngập trốn ra khỏi cung bị truy bắt ráo riết, Ngô Xương Tỷ cùng bạn mình tìm đến Thiền Sư Vân Phong trụ trì chùa Khai Quốc xin quy y Phật. Từ đó, Sư đọc khắp sách Phật, tìm hiểu yếu chỉ của Thiền.
Thấy Thiền sư tọa thiền giữa đường chắn lối mình, Đinh Bộ Lĩnh biết sư có điều muốn dạy, bèn xuống ngựa đến gần chắp tay bái :
- Con chào thầy ! Chẳng hay vì duyên gì thầy lại tọa thiền chổ này ?
Thiền sư lặng im không đáp, Lĩnh biết mình hỏi vào chổ không đúng nên lại chắp tay hỏi :
- Thầy có gì muốn nói cùng con ?
- Thế chủ có biết thành này chăng ?
- Thành Đại La thưa thầy.
Thiền sư lại chẳng nói chẳng rằng, Bộ Lĩnh biết ý, nói thêm :
- Ở thành này, 27 năm trước là chổ mà Ngô Vương cùng các tướng bàn định kế sách đánh giặc Nam Hán.
Lĩnh nói đến đó, sư liền đứng dậy, đi thẳng vào thành, Lĩnh hiệu cho quân tướng đóng lại bên ngoài rồi theo sư đi vào trong thành.
Sư vào thành, đến đúng chổ xưa, ngồi sãn đợi Lĩnh, Lĩnh theo đến ngồi đối diện với sư, sư nói :
- Không phải chổ đấy. - Nói rồi trỏ lên phía trên chổ mà xưa Ngô Vương đã ngồi -
Lĩnh ngồi đâu vào đấy, sư lại hỏi :
- Thế chủ có hiểu tột nghĩa chữa Thiện chăng?
- Xin thầy nói rõ chổ ấy !
- Thiện gồm nghĩa của thuận và lợi, thuận có hai, những gì là hai ? đó là thuận với tự nhiên, thuận với chánh pháp, lợi có 4, những gì là bốn ? đó là lợi mình lợi người, thiệt mình lợi người, thiệt ít người lợi nhiều người, thiệt hiện tại lợi tương lai. Xưa nay các đạo lý đều từ một chữ thiện mà ra, không thiện thì chẳng phải đạo , người muốn sông hợp đạo phải hiểu hết chữ thiện ấy, người muốn hành đạo cũng phải hiểu hết chữ thiện ấy.
Sư lại hỏi :
- Thế chủ thấy khí số nhà Ngô còn chăng?
***
Ấy chính là chổ chưa tiện nói trong long Lĩnh, nay được hỏi hai lần, liệu Đinh Bộ Lĩnh sẽ đáp thế nào ? Xem Hồi sau sẽ rõ.
Nhưng kế hay vẫn chưa vẹn, khi Tấn Vương muốn nối lấy đức Ngô Vương nhưng trí dũng của vua lại không đủ, từ thời Sách Vương hai thôn Đường, Nguyễn ở Thái Bình đã dấy loạn, các vua thay nhau đánh mà không được.
Năm 965 vua lại điểm binh cùng Dương Cát Lợi đi đánh hai thôn ấy, Vua sai Cát Lợi dẫn binh đánh vào thôn Nguyễn còn mình cũng tự câm quân đánh vào thôn Đường. Khi Vua đến chẳng thấy trai tráng trong thôn đâu cả, chỉ còn lại phụ nữ, trẻ em và người già, bèn hội quân với Cát Lợi, Lợi tâu :
- Hai thôn này nằm ở gần khu rừng lớn, tiện cho việc ẩn nấp, nay ban ngày ta cho lính vào lùng sục tìm kiếm, đêm đến canh gác nghiêm ngặt phòng quân ấy đánh lén.
Vua nghe kế ấy, ban ngày cho lính chia nhau mỗi nhóm 10 người tiến sâu vào rừng tìm kiếm, độ hơn 10 ngày nhưng chẳng kết quả gì, khi ấy quân sỹ đã chín phần nản chí, canh phòng thiếu nghiêm chẩn lại lơi lỏng phép tắc thường vào hai thôn ấy mà quấy đàn bà.
Ngày thứ 11, đang lúc ban ngày, trời nóng bức, quân tướng đều trốn hết vào trại tìm mát, bỗng đâu có 1000 quân kéo từ rừng ra dùng hỏa công mà đánh úp quân triều đình, doanh trại bị cháy, quân tướng hoảng hốt chạy như ong vỡ tổ, Cát Lợi dẫn vua phá vòng vây ra mà chạy. Nào ngờ chạy chưa được xa lại rơi vào ổ phục kích, quân Đường -Nguyễn từ trong các bụi cây rậm dùng nỏ mà bắn ra, binh lính triều đình chết vô kể, vua bị trúng một tên vào ngực ngã khỏi ngựa, Cát Lợi cắp lấy vua chạy thêm mấy dặm không thấy bị truy đuổi nữa mới dừng, lúc này vua đã chết.
Nam Tấn Vương mất năm 34 tuổi, Ngô Xương Xí nối ngôi, lúc này Xí mới vừa 18, vọn Lý Bình Xử mấy năm qua không được Tấn Vương tin dùng nhờ thế Xí mà không bị mất chức, nay Tấn Vương mất chúng khing vua còn trẻ, lại hèn yến nên trên triều thướng át cái oai của vua. Một hôm bọn ấy bàn với nhau, Xử nói:
- Ta với các ngươi đã làm quan 5 đời vua, nay Xí hèn yếu, ta nên nhân đó phế đi tự mình làm vua hưởng phúc dài lâu.
Bọn Kiều Tri Hựu, Dương Huy nghe thế sợ lắm, bàn lui :
- Ông không nhớ lấy bài học của Dương Tam Kha sao ? Kha là cậu của Xương Văn, Xương Ngập nên mới được toàn mạng, còn chúng ta lỡ sự không thành hay các tướng kéo về kinh hỏi tội thì mất mạng ngay.
- Dương Tam Kha khi trước hành sự chưa đủ tàn nhẫn nên mới có cơ sự ấy thôi, nay ta phế vua rồi giết đi thì hậu họa không còn.
Nghe lời ấy bọn Hựu, Huy chẳng an tâm được phần nào lại càng sợ thêm, nhưng chẳng dám cãi lời Xử, bèn cùng Xử lên kế hoạch hành động.
Chúng đâu biết rằng có một nha tướng nghe được những lời đó liền đến báo với Xương Xí, Xí khi ấy hãy còn chơi đùa trong hậu cung, nha tướng ấy trách :
- Giò này mà vua còn có tâm chơi đùa sao ?
- Có chuyện gì ? - Vua hỏi lại -
- Bọn Lý Bình Xử đang bàn nhau phế vua, sau khi phế thì giết đi để trừ hậu họa.
Vua lúc này sợ lắm, hồn phách lên tận mây xanh, lát sau định thần lại được mới hỏi gấp :
- Bây giờ ngươi bảo ta nên làm sao ?
- Chỉ còn cách trốn đi thôi, trong triều bây giờ thế của Xử là lớn nhất chẳng cầu ai được, các tướng Cảnh Thạc, Cát Lợi từ sau khi Tấn Vương mất đã ra đóng ngoài thành rồi.
- Nhưng trốn đi đâu ?
- Bình Kiều, Ái Châu đất ấy là đất cũ của Ngô Vương, tất có chổ cho vua.
Xí nghe theo lời ấy, ngay trong đêm lẻn ra ngoài cung, cùng một số binh sĩ chạy về Ái Châu.
Lý Bình Xử biết chuyện vua chạy khỏi cung, đang đinh làm lễ đăng cơ tự mình làm vua thì nghe tin đại quân của Đinh Bộ Lĩnh đang kéo ra Cổ Loa, từ ngày từ Trường Yên trở về bụng Xử vẫn chưa hết sợ Lĩnh, nay nghe tin kéo quân ra, biết chẳng chống nổi, liền cùng nhau theo hướng bắc mà chạy. Vừa vượt sông Hồng chưa kịp thở, bỗng đâu có quân lính kéo đến bọn Xử chẳng kịp trở tay đều bị chém cả.
Bộ Lĩnh kéo quân vào Cổ Loa, tìm không thấy Xử, Hựu, Huy thì giận lắm, sai Nguyễn Bặc, Đinh Điền đuổi theo, hai tướng vừa quay lưng thì có hai người trẻ tuổi, nhìn thế bộ thì có thể đoán là con nhà võ, hai người thi lễ với Bộ Linh rồi nói :
- Tôi là Phạm Hạp, còn đây là em tôi Phạm Cự Lang, chúng tôi đến ra mắt Đinh tướng quân, đây là chút quà ra mắt. - Nói xong ném xuống một bọc bết máu. -
- Thì ra là hậu nhân của Phạm Lệnh Công và Phạm Bạch Hổ, quả nhiên khí phách bất phàm, cái bọc này là gì vậy?
- Thưa, đó là đầu của bọn tặc thần Xử, Hựu Huy.
- Tốt quá ! ta còn sợ chúng chạy mất, không biết sao hả cơn giận trong lòng.
- Đinh tướng quân, vua nay bỏ ngôi, ngai tính thế nào ? - Phạm Hạp hỏi -
- Điều đó ta thật nói chưa tiện, chỉ có thể cho các ngươi biết rằng ta 26 năm ở Hoa Lư, nay chẳng phải vì một cơn giân nuốt không trôi mà kéo quân ra đây.
- Lời ít, xin dám cả gan được nghĩ nhiều, anh em tôi xin được theo chủ tướng mà lập chí ấy.
- Các ông hiểu được thì tốt.
Lúc đó Lưu Cơ đứng ra nói :
- Vua mới bỏ ngôi mà đi, ta ở lâu trong thành Cổ Loa này tất nhiều thị phi không đáng có, xin chủ tướng liệu tính.
Lĩnh đáp:
- Lời ấy phải lắm.
Đinh Bộ Lĩnh cùng quân tướng lưu ở Cổ Loa 10 ngày thì cũng nhau kéo đi, Lĩnh đi trước, các tướng Nguyễn Bặc, Đinh Điền, Lưu Cơ, Trịnh Tú, Phạm Hạp, Phạm Cự Lang đi ngay sau, lúc ngang qua thành Đại La, giữa đường có một vị nhà sư ngồi tọa thiền chắn lấy lối của Lĩnh. Trông ra thì chính là Chân Lưu đại sư của chùa Khai Quốc.
Chân Lưu đại sư tên lúc còn ngoài đời là Ngô Xương Tỷ, là con cả của Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập, là anh của Ngô Xương Xí, năm 944 khi Dương Tam Kha phế Ngô Xương Ngập, Ngô Xương Ngập trốn ra khỏi cung bị truy bắt ráo riết, Ngô Xương Tỷ cùng bạn mình tìm đến Thiền Sư Vân Phong trụ trì chùa Khai Quốc xin quy y Phật. Từ đó, Sư đọc khắp sách Phật, tìm hiểu yếu chỉ của Thiền.
Thấy Thiền sư tọa thiền giữa đường chắn lối mình, Đinh Bộ Lĩnh biết sư có điều muốn dạy, bèn xuống ngựa đến gần chắp tay bái :
- Con chào thầy ! Chẳng hay vì duyên gì thầy lại tọa thiền chổ này ?
Thiền sư lặng im không đáp, Lĩnh biết mình hỏi vào chổ không đúng nên lại chắp tay hỏi :
- Thầy có gì muốn nói cùng con ?
- Thế chủ có biết thành này chăng ?
- Thành Đại La thưa thầy.
Thiền sư lại chẳng nói chẳng rằng, Bộ Lĩnh biết ý, nói thêm :
- Ở thành này, 27 năm trước là chổ mà Ngô Vương cùng các tướng bàn định kế sách đánh giặc Nam Hán.
Lĩnh nói đến đó, sư liền đứng dậy, đi thẳng vào thành, Lĩnh hiệu cho quân tướng đóng lại bên ngoài rồi theo sư đi vào trong thành.
Sư vào thành, đến đúng chổ xưa, ngồi sãn đợi Lĩnh, Lĩnh theo đến ngồi đối diện với sư, sư nói :
- Không phải chổ đấy. - Nói rồi trỏ lên phía trên chổ mà xưa Ngô Vương đã ngồi -
Lĩnh ngồi đâu vào đấy, sư lại hỏi :
- Thế chủ có hiểu tột nghĩa chữa Thiện chăng?
- Xin thầy nói rõ chổ ấy !
- Thiện gồm nghĩa của thuận và lợi, thuận có hai, những gì là hai ? đó là thuận với tự nhiên, thuận với chánh pháp, lợi có 4, những gì là bốn ? đó là lợi mình lợi người, thiệt mình lợi người, thiệt ít người lợi nhiều người, thiệt hiện tại lợi tương lai. Xưa nay các đạo lý đều từ một chữ thiện mà ra, không thiện thì chẳng phải đạo , người muốn sông hợp đạo phải hiểu hết chữ thiện ấy, người muốn hành đạo cũng phải hiểu hết chữ thiện ấy.
Sư lại hỏi :
- Thế chủ thấy khí số nhà Ngô còn chăng?
***
Ấy chính là chổ chưa tiện nói trong long Lĩnh, nay được hỏi hai lần, liệu Đinh Bộ Lĩnh sẽ đáp thế nào ? Xem Hồi sau sẽ rõ.
Loạn Thế Lộ Chân Long, Hồi thứ 8
Hai vua Hậu Ngô nghe xàm tấu kéo đại quân đến đánh Hoa Lư, Đinh Bộ Lĩnh thủy chung trước sau không đánh cũng chẳng hàng, vừa khi ấy có tin từ kinh đô nói Dương Tam Kha kéo quân ra đòi ngôi, hai vua bỏ Lĩnh lại mà cùng kéo về kinh.
Đinh Điền dùng kế cho trâu chạy qua hậu quân của 2 vua cứu được Đinh Liễn. Điền, Liễn về trại thì cũng vừa lúc Trịnh Tú về tới, Bộ Lĩnh khi ấy chắp tay tạ, rồi nói :
- Hôm nay không có hai ngươi, ta thật khó nói hết hậu quả.
- Tôi chỉ có chút sức võ biền đáng gì - Đinh Điền nói -
Bộ Lĩnh tiến đến vỗ vai Đinh Điền, rồi lại trông qua Trịnh Tú nói:
- Kịp thời lắm !
- Là nhờ kế hay của chủ tướng, tôi chỉ uốn ba tấc lưỡi này thôi.
- Kế gì vậy ? - Lưu Cơ tò mò hỏi -
- Hôm ấy, tôi trù rằng nếu ta cự lại thì đến đông tất quân triều đình phải rút nhưng chủ tướng lại bảo chẳng cần đến đông, tôi có chổ nghi nên đợi các ông đi mới hỏi.
- Chủ tướng đáp thế nào ? - Lưu Cơ hỏi dồn -
- Chủ tướng không đáp, chỉ sai ta tức tốc lên kinh đô, nếu thật quân triều đình kéo đến thì ta ở đó phao tin Dương Tam Kha về kinh đòi ngôi, Xương Ngập vốn ám ảnh chuyện cướp ngôi lần trước tất chẳng tính đúng sai mà vội lui quân ngay, sau đó thì mọi chuyện như các ngươi đã biết.
- Diệu kế ! Ta còn đang định hỏi chủ tướng xử thế nào với chuyện Dương Tam Kha.
Lưu Cơ nói đến đó, mọi người cũng rộ lên cười, Đinh Liễn không hiểu chuyện cũng cười sang sảng. Nguyễn Bặc nhìn Đinh Liễn hỏi :
- Lúc ngoài thành, cháu có biết có thể sẽ trúng tên không mà vững chí làm vậy ?
- Cháu biết, nhưng trước khi đi cha cháu nói "có chết cũng thẳng lưng ngẩng mặt không được khóc" lại còn bắt cháu ngoéo tay nữa.
Mọi người lại được một tràng cười lớn.
***
Lại nói chuyện Thiên Sách Vương, từ khi về kinh, tính đa nghi không hề giảm ngược lại càng lúc càng nhạy cảm với những gì vua nghĩ là mối nguy cho quyền lực của mình. Sách Vương kiêng dè Tấn Vương hết mực, không chỉ không cho chấp chính, mà kiểm soát luôn cả khi ra lúc vào. Tấn Vương phẫn ức chỉ biết lui tới chổ Cảnh Thạc, Cát Lợi uống rượu tìm vui.
Sách Vương chỉ chăm chăm củng cố ngôi vị, chuyện triều chính trể mãng, chẳng ơn gì với dân. Nghề thế, chẳng ơn gì với dân thì dân chẳng nhớ, các hào trưởng địa phương giúp dân khai khẩn dân theo, thế các hào trường ngày một mạnh, Sách Vương sợ lắm, đem quân đi đánh khắp nơi. Dứt dây thì động rừng, đánh rắn thì động cỏ chẳng đe được dân ngược lại như rung cây dọa khỉ làm cho các hào trưởng mộ quân gia cố lực lượng thêm.
Quân địa phương chống đối triều đinh, rồi sát phạt lẫn nhau để ngày một lớn mạnh, cảnh tượng thật hỗn loạn.
Năm 954, Thiên Sách Vương bị bệnh mà mất, hưởng thọ 39 tuổi. Bọn Lý Bình Xử lâu nay vốn dựa thế Thiên Sách Vương, nay vua mất như ngồi ghế không có chổ tựa bày mưu toan lập Ngô Xương Xí kế ngôi. Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát lợi biết được mưu ấy kéo đến chổ Nam Tấn Vương mà rằng:
- Khi trước vua đón Sách Vương về, Sách Vương chẳng nhớ ơn lại còn kiêng dè, chèn ép lại vua, một nước hai vua tất loạn, đạo ấy chẳng đâu xa, nay bọn Lý Bình Xử muốn lập Xương Xí làm vua, cảnh ấy lại tái hiện. Vua tính cho sớm.
- Anh ta đối với ta chẳng hậu, nhưng ta không thể lấy dạ hẹp mà đo, nay ta nhiếp chính cũng được, nhưng vẫn lập Xương Xí làm thế tử, mọi việc các ông sắp xếp cho chu toàn.
Cảnh Thạc, Cát Lợi y lệnh, ngay hôm sau kéo quân vào cung chia nhau đứng canh khắp nơi, lại dàn hàng đón Nam Tấn Vương thiết triều. Tấn Vương lại lập Ngô Xương Xí làm thế tử, bọn Lý Bình Xử khi ấy chẳng còn cách nào nữa đành ngậm bồ hòn.
Cơ đồ Sách Vương để lại là một cảnh hỗn loạn, Tấn Vương nhiếp chính lại phải đem quân đi đánh khắp nơi hòng bình ổn tình hình.
***
Đinh Bộ Lĩnh từ khi lui được hai vua, vẫn thủy chung ở Hoa Lư chẳng nửa bước ra ngoài, quân sỹ vẫn theo nếp cũ, chia nhau khi tập luyện, khi về nhà làm ăn, Bộ Lĩnh lại cho người khai hoang mở mang ruộng đất, thực hiện nhiều chính sách lợi dân, đất Hoa Lư nhờ thế ngày càng thịnh vượng, dân một lòng theo Lĩnh, chẳng nghi. Nay tin từ kinh đô truyền về Lĩnh họp các tướng lại bàn đối sách, Lĩnh nói :
- Bình Vương, Sách Vương tổng cộng 10 năm chỉ ra oán, chẳng ra ơn, dân địa phương nổi lên cát cứ ngày một nhiều, thế tình thật khó cứu, ta xem Xương Văn tuy chẳng dũng, trí chưa cao sâu, nhưng có tâm lại biết nghe lời phải, ta muốn giúp vua yên sự.
Lúc ấy, bỗng đâu bà Đàm Diễm, mẹ của Lĩnh từ trong bước ra nói với giọng cương quyết :
- Con muốn giúp vua mẹ không cản, nhưng tuyệt đối không được dẫn binh ra khỏi Hoa Lư.
- Sao vậy mẹ ?
- Mẹ thân đàn bà, chuyện lớn mẹ nghĩ không ra, nhưng trước khi mất cha con có dặn "con như Rồng như chim Lạc, sẽ chẳng chịu làm tôi cho người, chẳng phải khi nước khốn dân đau thì chớ cho nó ra khỏi đất Hoa Lư", nước nay còn vua, bờ cõi còn yên, dân loạn vì oán chưa phải vì tận khổ, con nên nghĩ lấy lời cuối của cha.
Lĩnh khi ấy cười nói :
- Mẹ yên tâm mà lui vào an dưỡng, câu dân nước làm trọng mẹ cha dạy con vẫn ghi trong lòng, khi nào thực sự cần dụng binh thì con sẽ xin ý mẹ trước.
Bà Đàm Diễm vào rồi, Linh mới tiếp tục nói với các tướng:
- Dân ấy chẳng lỗi gì, dùng binh không phải đạo, vả nếu dụng binh, việc được tất át lấy cái oai vua, khi ấy chẳng phải giúp vua nữa. Dụng binh không đặng thì dùng lời, ta xem các đạo quân lớn đều tập trung cả ở các đất ven sông Hồng, sông Đuống, từ đó mà lựa cách đối đãi. Nay các tướng nghe lệnh !
- Rõ !
- Trinh Tú, Đinh Điền dẫn theo 500 người giả trang thành người buôn, tiến vào các đất Ái Châu, Hoan Châu, Nhật Nam, dùng lời phải mà nói với các hào trưởng để họ được an. Nguyễn Bặc dẫn theo vài anh em, ra với Phạm Bạch Hổ, truyền lại ý của ta cốt sao cho ông ấy dùng thế của mình kết với Phạm Lệnh Công thành gọng kìm mà kiềm tỏa các đạo quân lớn. Lưu Cơ dẫn theo vài anh em, ra kinh đô, gặp cho bằng được vua, thêm lần nữa trao thư của ta.
- Rõ !
- Tốt lắm ! các tướng đi sớm, về sớm.
***
Trinh Tú, Đinh Điền y lệnh dẫn theo 500 người từ Hoa Lư tiến vào đất Ái Châu, đi đến thôn Vạn Diệp thì bỗng đâu có người ra chặn đánh, Trịnh Tú đứng ra phân trần :
- Chúng tôi là người buôn từ Hoa Lư vào, thuận đường đi qua chốn đây, hà cớ chi lại vậy đánh ?
Hào trưởng đất ấy là Nguyễn Tấn, nghe ra giọng không phải người vùng mình nên bảo kẻ dưới buông vũ khí, rồi nói :
- Xin lỗi các vị, chỉ vì gần đây hào trưởng đất bên là Hồ Công mộ quân tuyển lính thường qua chổ chúng tôi cướp phá, nên chúng tôi phải lo lấy thân mình.
Nguyễn Tấn lại mời bọn Trính Tú, Đinh Điền vào nhà, Trinh Tú nhân đó hỏi ngọn nguồn cớ sự, sau lại nói thật thân phận rồi hứa giúp dân Vạn Điệp.
Hôm ấy, quân Hồ Công lại đến, Trinh Tú bảo Nguyễn Tấn cùng trai tráng ra cự như bình thường, còn mình và Đinh Điền vòng ra sau đánh úp, quân Hồ Công thua chạy, tự đó chẳng còn dám tới. Tú lại đem lời phải mà nói với Nguyễn Tấn, Tấn mang ơn, tin theo chẳng nghi.
Đinh Điền, Trịnh Tú kẻ có dũng người có mưu, đi 3 năm thì khắp hết đất Ái, Hoan, khi thương thuyết, khi ra tay giúp mà an hết các hào trưởng.
***
Nguyễn Bặc y lệnh, tìm đến gặp Phạm Bạch Hổ, Hổ mừng ra đón, lại hỏi :
- Lần này ngươi ra chắc lại mang ý chủ tướng ngươi ?
Nguyễn Bặc truyền lại ý Bộ Lĩnh, Bạch Hổ phục lắm, liến tán :
- Ta thật chẳng lầm, ngoài Ngô Vương nay chỉ còn Bộ Lĩnh đáng cho ta theo, chỉ tiếc không có được duyên ấy, ngươi về nói lại, chuyện đó ta sẽ tận sức mà làm.
Nói làm liền, Bạch Hổ sai quân đến trấn ở những chổ giáp ranh giữa các đạo quân lớn, lại gửi thư cho Phạm Lệnh Công, Lệnh Công cũng sai cháu mình là Phạm Hạp và Phạm Cự Lang làm như vậy. Các đạo vì sợ thế nhà họ Phạm, đành ở yên không dám xâm lấn nhau.
***
Lưu Cơ y lệnh, ra đến Cổ Loa xin gặp vua, vua bằng lòng, Cơ trình thư lên vua, thư viết :
- Ví như cha chẳng phải đạo, nên con chẳng thành người tốt, nay dùng roi vọt mà trách mắng, người con chẳng phục lại hận cha thêm. Cũng thế, 10 năm nay, Bình Vương, Sách Vương khiến dân oán khắp nơi phải mộ quân mà giữ lấy thân mình, nay vua dùng binh mà phạt các thôn ấp ấy, thời họ chẳng phục, chi bằng vua làm lợi cho dân, dân nhận được đức của vua tất buông đao bỏ kiếm một lòng tin theo. Đôi lời từ Bộ Lĩnh, mong vua được ý quên lời.
Vua vốn mang ơn Lĩnh, biết Lĩnh tài trí hơn người lại thấy lời ấy chẳng sai, nên tự đó học đức Ngô Vương mà gia ơn thiên hạ.
***
Kế hay của Đinh Bộ Lĩnh thành, dân nước được yên. Chẳng ngờ lại có biến.
Xem hồi sau sẽ rõ.
Đinh Điền dùng kế cho trâu chạy qua hậu quân của 2 vua cứu được Đinh Liễn. Điền, Liễn về trại thì cũng vừa lúc Trịnh Tú về tới, Bộ Lĩnh khi ấy chắp tay tạ, rồi nói :
- Hôm nay không có hai ngươi, ta thật khó nói hết hậu quả.
- Tôi chỉ có chút sức võ biền đáng gì - Đinh Điền nói -
Bộ Lĩnh tiến đến vỗ vai Đinh Điền, rồi lại trông qua Trịnh Tú nói:
- Kịp thời lắm !
- Là nhờ kế hay của chủ tướng, tôi chỉ uốn ba tấc lưỡi này thôi.
- Kế gì vậy ? - Lưu Cơ tò mò hỏi -
- Hôm ấy, tôi trù rằng nếu ta cự lại thì đến đông tất quân triều đình phải rút nhưng chủ tướng lại bảo chẳng cần đến đông, tôi có chổ nghi nên đợi các ông đi mới hỏi.
- Chủ tướng đáp thế nào ? - Lưu Cơ hỏi dồn -
- Chủ tướng không đáp, chỉ sai ta tức tốc lên kinh đô, nếu thật quân triều đình kéo đến thì ta ở đó phao tin Dương Tam Kha về kinh đòi ngôi, Xương Ngập vốn ám ảnh chuyện cướp ngôi lần trước tất chẳng tính đúng sai mà vội lui quân ngay, sau đó thì mọi chuyện như các ngươi đã biết.
- Diệu kế ! Ta còn đang định hỏi chủ tướng xử thế nào với chuyện Dương Tam Kha.
Lưu Cơ nói đến đó, mọi người cũng rộ lên cười, Đinh Liễn không hiểu chuyện cũng cười sang sảng. Nguyễn Bặc nhìn Đinh Liễn hỏi :
- Lúc ngoài thành, cháu có biết có thể sẽ trúng tên không mà vững chí làm vậy ?
- Cháu biết, nhưng trước khi đi cha cháu nói "có chết cũng thẳng lưng ngẩng mặt không được khóc" lại còn bắt cháu ngoéo tay nữa.
Mọi người lại được một tràng cười lớn.
***
Lại nói chuyện Thiên Sách Vương, từ khi về kinh, tính đa nghi không hề giảm ngược lại càng lúc càng nhạy cảm với những gì vua nghĩ là mối nguy cho quyền lực của mình. Sách Vương kiêng dè Tấn Vương hết mực, không chỉ không cho chấp chính, mà kiểm soát luôn cả khi ra lúc vào. Tấn Vương phẫn ức chỉ biết lui tới chổ Cảnh Thạc, Cát Lợi uống rượu tìm vui.
Sách Vương chỉ chăm chăm củng cố ngôi vị, chuyện triều chính trể mãng, chẳng ơn gì với dân. Nghề thế, chẳng ơn gì với dân thì dân chẳng nhớ, các hào trưởng địa phương giúp dân khai khẩn dân theo, thế các hào trường ngày một mạnh, Sách Vương sợ lắm, đem quân đi đánh khắp nơi. Dứt dây thì động rừng, đánh rắn thì động cỏ chẳng đe được dân ngược lại như rung cây dọa khỉ làm cho các hào trưởng mộ quân gia cố lực lượng thêm.
Quân địa phương chống đối triều đinh, rồi sát phạt lẫn nhau để ngày một lớn mạnh, cảnh tượng thật hỗn loạn.
Năm 954, Thiên Sách Vương bị bệnh mà mất, hưởng thọ 39 tuổi. Bọn Lý Bình Xử lâu nay vốn dựa thế Thiên Sách Vương, nay vua mất như ngồi ghế không có chổ tựa bày mưu toan lập Ngô Xương Xí kế ngôi. Đỗ Cảnh Thạc, Dương Cát lợi biết được mưu ấy kéo đến chổ Nam Tấn Vương mà rằng:
- Khi trước vua đón Sách Vương về, Sách Vương chẳng nhớ ơn lại còn kiêng dè, chèn ép lại vua, một nước hai vua tất loạn, đạo ấy chẳng đâu xa, nay bọn Lý Bình Xử muốn lập Xương Xí làm vua, cảnh ấy lại tái hiện. Vua tính cho sớm.
- Anh ta đối với ta chẳng hậu, nhưng ta không thể lấy dạ hẹp mà đo, nay ta nhiếp chính cũng được, nhưng vẫn lập Xương Xí làm thế tử, mọi việc các ông sắp xếp cho chu toàn.
Cảnh Thạc, Cát Lợi y lệnh, ngay hôm sau kéo quân vào cung chia nhau đứng canh khắp nơi, lại dàn hàng đón Nam Tấn Vương thiết triều. Tấn Vương lại lập Ngô Xương Xí làm thế tử, bọn Lý Bình Xử khi ấy chẳng còn cách nào nữa đành ngậm bồ hòn.
Cơ đồ Sách Vương để lại là một cảnh hỗn loạn, Tấn Vương nhiếp chính lại phải đem quân đi đánh khắp nơi hòng bình ổn tình hình.
***
Đinh Bộ Lĩnh từ khi lui được hai vua, vẫn thủy chung ở Hoa Lư chẳng nửa bước ra ngoài, quân sỹ vẫn theo nếp cũ, chia nhau khi tập luyện, khi về nhà làm ăn, Bộ Lĩnh lại cho người khai hoang mở mang ruộng đất, thực hiện nhiều chính sách lợi dân, đất Hoa Lư nhờ thế ngày càng thịnh vượng, dân một lòng theo Lĩnh, chẳng nghi. Nay tin từ kinh đô truyền về Lĩnh họp các tướng lại bàn đối sách, Lĩnh nói :
- Bình Vương, Sách Vương tổng cộng 10 năm chỉ ra oán, chẳng ra ơn, dân địa phương nổi lên cát cứ ngày một nhiều, thế tình thật khó cứu, ta xem Xương Văn tuy chẳng dũng, trí chưa cao sâu, nhưng có tâm lại biết nghe lời phải, ta muốn giúp vua yên sự.
Lúc ấy, bỗng đâu bà Đàm Diễm, mẹ của Lĩnh từ trong bước ra nói với giọng cương quyết :
- Con muốn giúp vua mẹ không cản, nhưng tuyệt đối không được dẫn binh ra khỏi Hoa Lư.
- Sao vậy mẹ ?
- Mẹ thân đàn bà, chuyện lớn mẹ nghĩ không ra, nhưng trước khi mất cha con có dặn "con như Rồng như chim Lạc, sẽ chẳng chịu làm tôi cho người, chẳng phải khi nước khốn dân đau thì chớ cho nó ra khỏi đất Hoa Lư", nước nay còn vua, bờ cõi còn yên, dân loạn vì oán chưa phải vì tận khổ, con nên nghĩ lấy lời cuối của cha.
Lĩnh khi ấy cười nói :
- Mẹ yên tâm mà lui vào an dưỡng, câu dân nước làm trọng mẹ cha dạy con vẫn ghi trong lòng, khi nào thực sự cần dụng binh thì con sẽ xin ý mẹ trước.
Bà Đàm Diễm vào rồi, Linh mới tiếp tục nói với các tướng:
- Dân ấy chẳng lỗi gì, dùng binh không phải đạo, vả nếu dụng binh, việc được tất át lấy cái oai vua, khi ấy chẳng phải giúp vua nữa. Dụng binh không đặng thì dùng lời, ta xem các đạo quân lớn đều tập trung cả ở các đất ven sông Hồng, sông Đuống, từ đó mà lựa cách đối đãi. Nay các tướng nghe lệnh !
- Rõ !
- Trinh Tú, Đinh Điền dẫn theo 500 người giả trang thành người buôn, tiến vào các đất Ái Châu, Hoan Châu, Nhật Nam, dùng lời phải mà nói với các hào trưởng để họ được an. Nguyễn Bặc dẫn theo vài anh em, ra với Phạm Bạch Hổ, truyền lại ý của ta cốt sao cho ông ấy dùng thế của mình kết với Phạm Lệnh Công thành gọng kìm mà kiềm tỏa các đạo quân lớn. Lưu Cơ dẫn theo vài anh em, ra kinh đô, gặp cho bằng được vua, thêm lần nữa trao thư của ta.
- Rõ !
- Tốt lắm ! các tướng đi sớm, về sớm.
***
Trinh Tú, Đinh Điền y lệnh dẫn theo 500 người từ Hoa Lư tiến vào đất Ái Châu, đi đến thôn Vạn Diệp thì bỗng đâu có người ra chặn đánh, Trịnh Tú đứng ra phân trần :
- Chúng tôi là người buôn từ Hoa Lư vào, thuận đường đi qua chốn đây, hà cớ chi lại vậy đánh ?
Hào trưởng đất ấy là Nguyễn Tấn, nghe ra giọng không phải người vùng mình nên bảo kẻ dưới buông vũ khí, rồi nói :
- Xin lỗi các vị, chỉ vì gần đây hào trưởng đất bên là Hồ Công mộ quân tuyển lính thường qua chổ chúng tôi cướp phá, nên chúng tôi phải lo lấy thân mình.
Nguyễn Tấn lại mời bọn Trính Tú, Đinh Điền vào nhà, Trinh Tú nhân đó hỏi ngọn nguồn cớ sự, sau lại nói thật thân phận rồi hứa giúp dân Vạn Điệp.
Hôm ấy, quân Hồ Công lại đến, Trinh Tú bảo Nguyễn Tấn cùng trai tráng ra cự như bình thường, còn mình và Đinh Điền vòng ra sau đánh úp, quân Hồ Công thua chạy, tự đó chẳng còn dám tới. Tú lại đem lời phải mà nói với Nguyễn Tấn, Tấn mang ơn, tin theo chẳng nghi.
Đinh Điền, Trịnh Tú kẻ có dũng người có mưu, đi 3 năm thì khắp hết đất Ái, Hoan, khi thương thuyết, khi ra tay giúp mà an hết các hào trưởng.
***
Nguyễn Bặc y lệnh, tìm đến gặp Phạm Bạch Hổ, Hổ mừng ra đón, lại hỏi :
- Lần này ngươi ra chắc lại mang ý chủ tướng ngươi ?
Nguyễn Bặc truyền lại ý Bộ Lĩnh, Bạch Hổ phục lắm, liến tán :
- Ta thật chẳng lầm, ngoài Ngô Vương nay chỉ còn Bộ Lĩnh đáng cho ta theo, chỉ tiếc không có được duyên ấy, ngươi về nói lại, chuyện đó ta sẽ tận sức mà làm.
Nói làm liền, Bạch Hổ sai quân đến trấn ở những chổ giáp ranh giữa các đạo quân lớn, lại gửi thư cho Phạm Lệnh Công, Lệnh Công cũng sai cháu mình là Phạm Hạp và Phạm Cự Lang làm như vậy. Các đạo vì sợ thế nhà họ Phạm, đành ở yên không dám xâm lấn nhau.
***
Lưu Cơ y lệnh, ra đến Cổ Loa xin gặp vua, vua bằng lòng, Cơ trình thư lên vua, thư viết :
- Ví như cha chẳng phải đạo, nên con chẳng thành người tốt, nay dùng roi vọt mà trách mắng, người con chẳng phục lại hận cha thêm. Cũng thế, 10 năm nay, Bình Vương, Sách Vương khiến dân oán khắp nơi phải mộ quân mà giữ lấy thân mình, nay vua dùng binh mà phạt các thôn ấp ấy, thời họ chẳng phục, chi bằng vua làm lợi cho dân, dân nhận được đức của vua tất buông đao bỏ kiếm một lòng tin theo. Đôi lời từ Bộ Lĩnh, mong vua được ý quên lời.
Vua vốn mang ơn Lĩnh, biết Lĩnh tài trí hơn người lại thấy lời ấy chẳng sai, nên tự đó học đức Ngô Vương mà gia ơn thiên hạ.
***
Kế hay của Đinh Bộ Lĩnh thành, dân nước được yên. Chẳng ngờ lại có biến.
Xem hồi sau sẽ rõ.
Subscribe to:
Posts (Atom)