Đêm tĩnh mịch, mái chèo khua nhẹ trên mặt nước, khói phiêu diêu huyền ảo dưới ánh trăng, có 2 vị cư sỹ tựa mạn thuyền mà đàm đạo chuyện đời, tức cảnh một vị xuất khẩu bài vịnh :
Mặt nước nghiêng soi bóng trắng gầy
Tựa thuyền rẽ sóng, rẽ làn mây.
Tay thời cầm điếu, tay vê thuốc
Châm đóm lên rồi, dạ ngất ngây.
Khói đầu rít nhẹ không thành tiếng
Ta nhả phì phèo giữa bung biêng
Lần hai hôn điếu, hôn đằm thắm
Ta rít thật sâu tụ đan điền
Quên đi tĩnh lặng, quên phiền não
Quên cả nàng trăng, lả lơi mình.
Đọc đến đấy, ông dừng lại hỏi:
Huynh nói xem, bài vịnh này nhắc đến vị anh hùng nào ?
Nghe đến đấy, vị kia cảm thán:
Anh thư kỳ nữ có Bùi Hằng
Anh Hùng phi Vũ có mấy ai ?
Rồi ông kể lại:
Thủa trước, nhân thời nhiễu nhương có Nhị Tuyệt Nam Hằng Bắc Vũ làm nên một sóng gió trên giang hồ.
Nam Hằng, tức Bùi Thị Minh Hằng, vốn sinh trên đất Bắc, sau hận thế nhân mà xa rời gia quyến, một mình vào Vũng Tàu Bán Đảo sống những ngày tháng tự do tự tại.
Năm lên 15 trong một lần xuất ngoại qua Nhật Bổn, nhờ hạnh ngộ kỳ duyên với Chaien tiền bối mà lãnh ngộ được chân truyền Sư Tử Hống, lại thêm tư chất hiếm thấy của người học võ nên đã sớm luyện môn ấy đến cảnh giới cao minh tột bậc.
Người phàm, 10 người thì có đến chín người nghĩ rằng Sư Tử Hống chỉ phát công từ miệng, nhưng với bà công phu ấy không dừng lại ở đó, về sau bà có chép lại khẩu quyết "Khí nộ huyết thượng, lực kình huyết hạ" (dịch nghĩa là "tực giận máu trên, phát lực máu dưới" ), đủ cho thấy tất thảy bộ phận trên cơ thể đều có thể phát công Sư Tử Hống.
Tài nuốt càn khôn mà đất trời quá nhỏ hẹp, chẳng bao lâu bà rời đất Vũng Tàu để hành tẩu giang hồ, những ngày tháng sau này bà chế tác thêm các bộ tuyệt kỹ võ học như Nằm Đường Đại Tâm Pháp, Phát Lộ Công An Mạng, Tự Thiêu Nhiễu Tâm Thuật.
Bắc Vũ, tức Cù Huy Hà Vũ, một nhân vật phong lưu trác tuyệt văn võ song toàn khó ai sánh bằng.
"Cửu thập cân" quái khách ấy mới ngạo nghễ khinh đời làm sao! Tài năng khí phách họ Cù quả là nghiêng trời lệch đất, lại làu thông cầm kỳ thi hoạ, lẫn toán học ,thiên văn, thuật số, y học...một kiểu thiên tài “tiền vô cổ nhân hậu vô lai giả” , là kẻ “chọc trời khuấy nước mặc dầu, dọc ngang nào biết trên đầu có ai”.
Cuộc giang hồ vốn ngỗn ngang những thứ rối rắm thị phi, tranh giành phân biệt. Nhưng khi Thánh Kiện xuất hiện là mọi thứ thị phi tầm thường của tha nhân phải biết im lặng phục tùng.
Thánh Kiện muốn là làm, hành vi thì tà mị cổ quái như tuyên bố tuyệt thực cơm tù, tu sữa nhà. Thánh Kiện có lẻ không hề mảy may quan tâm những gì thường nhân gán cho mình chỉ ngạo nghễ vượt lên những giềng mối tầm thường, đạp bằng những thị phi giả dối đó. Đơn giản là “voi không thể dạo chơi trên những lối mòn thỏ chạy”, kênh rạch tầm thường làm sao thấu hiểu những bát ngát trường giang mênh mông đại hải?
Hình bóng áo sọc đen trắng của quái khách ấy cứ chập chờn như quỷ mị trong những tiếng tiêu sầu réo rắt đâu đó thoát ẩn thoát hiện, phiêu linh vô định giữa trùng khơi hay giữa cuộc trần gian hư ảo những song sắt...
Nghe đến đấy, vị cư sỹ kia liền nói :
- Nhân huynh chớ lấy làm buồn, trên giang hồ mới nổi lên Nhị Tuyệt khác đó là Đông Tân - Tây Hải, hai vị này một là truyền nhân của Nam Hằng, một là truyền nhân của Bắc Vũ. Đấy âu cũng là số trời đã định, nhân tài trong thiên hạ cứ sóng trước dồn sóng sau.
Đông Tân, tức Dương Thị Tân, Tây Hải, tức Nguyễn Văn Hải (Điếu Cày), cả hai là thanh mai trúc mã và đều là đệ tử chân truyền của Bắc Vũ.
Nhân buổi trăng thanh gió mát, Tân Thị đi dạo dưới những hàng bằng lăng tím trên phố phường Hà Thành, bỗng có người ôm chầm lấy cô từ phía sau, trông ra thì đó là đại sư huynh Văn Hải, từ đó 2 người phải lòng nhau cùng thề non hẹn biển.
Mong muốn nên vợ nên chồng không được Bắc Vũ chấp nhận, 2 người cùng nhau trộm lấy Tuyệt Thực Bửu Điển rồi cao bay xa chạy, đến một thảo nguyên nọ thì dừng chân xe duyên kết tóc rồi cùng nhau tu luyện võ công.
Cuộc sống êm đềm hạnh phúc chẳng được bao lâu, triều đình cho kéo nét lên thảo nguyên, từ đó Hải trở nên nghiện Blog, bỏ bê vợ con, bỏ bê việc tu luyện võ học.
Tân Thị mang mối hận tình ấy, chỉ một đêm tóc bạc mất mấy sợi, cô bỏ đi thật xa trong giang hồ không ai biết tung tích.
Về phần Văn Hải, chàng ta vẫn miệt mài Blog, không để ý rằng Cửu Thập Cân quái khách đang ngày đêm rao riết truy tìm để thanh trừng môn hộ. Đêm đó, tức cảnh, Chàng ta bỗng nhớ đến thê tử, một mình thi triển Tuyệt Thực Thần Công dưới mưa, nước mắt chàng tan theo cơn mưa tầm tã.
Bất giác chàng nhận ra có bóng người to lớn phía sau lưng, giật mình nhất thời không kiểm soát được bộ pháp của mình, chàng ngã té nhào, cánh tay chàng buông giữa không trung, đúng lúc ấy một làn gió thổi qua cánh tay của chàng bị cắt lìa.
Biết cái bóng ấy đích thị là của sư phụ, chàng cắn răng chịu đau đớn, phủ phục bái lạy.
Người trong giang hồ có thơ khen rằng:
Nhớ thê tử, trong mưa luyện võ
Bỗng giật mình, tay đứt làm đôi
Biết ân sư, đang ngồi ở đó
Cắn chặt môi, bái lạy nhỏ to
Bắc Vũ lúc bấy giờ ngự trên thiền đài trỏ xuống quát :
- Văn Hải, người biết tội mình chưa ?
- Đệ tử biết.
- Thế người biết phải làm gì chưa ?
- Dạ, xin bái lãnh ý của sư phụ.
- Ta vốn muốn Nhất Nhật Tuyệt Thực để đoạt mạng ngươi, nhưng nể ngươi dẫu đau đớn vẫn quỳ bái, nay nếu ngươi làm được cho ta một việc, ta sẽ tha cho.
- Xin sư phụ chỉ dạy.
- Sắp tới đây quan quân triều đình đi thăm Mỹ Quốc, ngươi nhân cớ ấy làm cho Tuyệt Thực Bửu Điển phát dương quang đại , nhất định phải vượt qua kỷ lục 20 ngay của ta. Còn đây là Điếu Cày, cùng một gói Tương Tư Thảo, ngươi đem chia làm nhiều phần nhỏ, cứ cách một cách một canh giờ dùng một lần tự khắc cánh tay sẽ mọc trở lại.
Văn Hải vui mừng khôn xiết, nhưng chưa kịp bái tạ thì bóng dáng của Cửu Thập Cân quái khách đã mất hút trong sương khói.
Kể từ đó, Chàng một mình một điếu hành tẩu giang hồ lấy hiệu là Điếu Cày, sau bảy bảy bốn chín ngày dùng tương tư thảo, cánh tay chàng nay đã lành lặn lại như xưa, võ công nhờ thế mà thăng tiến không ngừng. Tuy nhiên vẫn đau đáu trong lòng mệnh lệnh của ân sư.
Có lần đang dong thuyền trên sông, chàng cầm điếu vê thuốc rít một hơi rõ dài, khói thuốc làm cho thuyền nhân bỗng trở nên vui vẻ lạ thường, ông bắt chuyện với chàng :
- Chẳng hay tiên sinh lo sầu điều chi ?
Chàng kể lại đầu đuôi câu chuyên rồi ảo não nói :
- Ta một thân võ công, tất thảy đều do ân sư truyền dạy, nay ông ấy lệnh ta làm cho võ phái phát dương quang đại mà chưa có cách gì khả dĩ, nên ngày đêm lo nghĩ.
- Tại hạ quanh năm sông nước, chữ nghĩa thâm mưu đều không có, nhưng có một đạo lý nhỏ đó là :
Trường giang nước chảy đêm ngày
Sóng sau, sóng trước vỗ ngày vỗ đêm
Nước điếu càng ủ càng êm
Nhưng dùng lâu quá cũng thum thủm mùi
Như ngộ ra được điều gì Điếu Cày vỗ đùi cái đét rồi nói :
- Thật hay, thật vãi, thế mà bấy lâu nay ta không nhận ra, sóng sau dồn sóng trước, nhớ xưa ân sư vào tù bế qua luyện Tuyệt Thực Bửu Điển 20 ngày mà có được tuyệt thế võ công. Nay ta cứ theo cách ấy nhưng luyện đủ một tuần trăng nhất định vang danh thiên hạ.
- Tiên sinh thật là người sáng trí sáng dạ, ân sư của ngài lệnh thế là thầm muốn ngài tiếp quản môn hộ đó.
- Cảm tạ lời vàng ngọc của ông.
Sau cuộc gặp ấy, Điếu Cày tìm mọi cách vào tù nung nấu kế hoạch luyện công, cuối cùng chàng cũng thỏa nguyện.
Trung tuần tháng bảy năm quý tị, nhân lúc quan quân triều đinh đi thăm Mỹ quốc như lời ân sư tiên đoán, chàng liền bế quan tu luyện, tin ấy ngay lập tức lan truyền trong giang hồ.
Lại nói về Tân Thị, sau một đêm khóc hận tóc bạc mấy sợi, nàng ta bỏ vào rừng, đi được 3 ngày 3 đêm thì người đói lả ngất xỉu bên vệ đường.
Khi tỉnh dậy đã thấy mình nằm trên giường êm đệm ấm, lúc bấy giờ có người đàn bà to lớn bước vào, nàng thầm nghĩ, chẳng lẽ ta đã lạc vào trang trại chăn nuôi lợn.
Tiếng nói của người đàn bà ấy xé toạc suy nghĩ của nàng, bà ta hỏi nàng cớ sự ra sao, nàng thật thà kể lại rồi khóc ngất đi.
Người đàn bà đó chính là Nam Hằng, những ngày tháng sau đó, bà ta cố công truyền dạy võ công cho nàng, nhưng phần vì quá hận tình, phần vì tư chất của nàng quá tệ nên mãi mà không có chút tiến triển gì.
Một lần Nam Hằng đọc khẩu quyết trong bộ Nằm Đường Đại Tâm Pháp :
Cơm nước no say
Lề đường an tọa
Trong dạ cầu mưa
Mưa xuống đi về
Thế nhưng Tân Thị nhẩm đọc cả ngày mà không hiểu. Không giữ được bình tĩnh, Nam Hằng hét lên:
- Ngươi đã ngu tới chổ nào rồi hả, có một đạo lý thô thiển như vậy mà nghĩ cả nửa ngày không ra.
- Sư Phụ đừng vội, lúc tôi còn ở Cù Vũ Gia Trang luyện công, sư phụ của con là Bắc Vũ thấy con lãnh ngộ quá chậm, ông ấy cũng rất nóng lòng, nhưng mà sau đó ...
- Sau đó ngươi đã có tiến triển ?
- Không, sau đó ông ấy đã QUEN cmnl
Nam Hằng thở dài bất lực không biết phải làm sao.
Thấy sư phụ tận tâm, Tân Thị sinh lòng cảm động nên chăm chỉ luyện tập hơn, nhưng đêm đến nàng lại khóc hận tình xưa, đêm nọ đang đang ngồi thiểu não bỗng nàng nghe thấy tiếng 2 người tiều phu đi ngang qua kháo nhau chuyện Điếu Cày luyện công trong ngục.
Nghe được chuyện ấy, lòng uất hận sôi sục trong nàng, ngửa mặt lên trời nàng cười một cách man trá rồi nghẹn ngào trong tiếng nấc : Ta vì người khóc bạc cả đầu, còn người thì chờ ngày công thành danh toại được sao.
Nàng đem nổi khổ ấy nói với Nam Hằng :
- Xin sư phụ giúp con rửa mối hận này.
Nam Hằng ra chiều cảm động nói:
- Ta muốn giúp ngươi, chỉ e tư chất của người quá tệ, nay chỉ còn 1 cách. Đây là cuốn Tự Thiêu Nhiễu Tâm Thuật ngươi hay ngày đêm tu luyện, thành công hay không trông đợi vào chính ngươi. Hãy nhớ bộ tâm pháp này cốt ở 3 chứ "CHỈ DỌA THÔI".
- Con có thể trả thù với bộ tâm pháp này sao sư phụ ?
- Phải, khi ngươi luyện thành, chỉ cần thi triển nó, trấn áp
quần hùng, bắt quân triều đình phải thả Điếu Cày ra, về
phần ta sẽ phao tin trên giang hồ, yêu cầu người của triều đình phải mớm cho Điếu Cày ăn. Dù là hắn được thả ra hay phá giới mà ăn khi đang luyện công thì cũng đều tẩu hỏa
nhập ma, đây gọi là "lưỡng tiễn hạ nhất điêu".
Tân Thị nhận được bộ tâm pháp ấy, ngày đêm nghiên
cứu, chi độ 1 tuần là có thể tự đảo lộn kinh mạch, công phu trở nên cao tột khó lường.
Ấy là vào cuối tháng 7 năm quý tị, giang hồ được chứng kiến một trận long tranh hổ đấu khiến trời rung đất lở.
Điếu Cày từ trong ngục phát công Tuyệt Thực, Tân Thị ở ngoài phát công Tư Thiêu, 2 luồng nội công âm dương tương khắc vừa chạm vào nhau đã phát ra tiếng nổ chấn động cả tinh cầu, khiến cho đám zombie phía bên kia Thái Bình Dương không biết nên tự thiêu hay nên tuyệt thực để tránh trận can qua.
Người ở gần, may mắn vì biết sức công phá kinh khủng của Tự Thiêu Nhiễu Tâm Thuật và Tuyệt Thực Thần Công mà năm xưa Nam Hằng và Bắc Vũ thi triển nên tất cả nhât loạt bịt tai nhắm mắt lại hoặc cố tĩnh tâm thiền tọa để tránh sát thương.
Sau trận ấy, hai bên bất phân thắng bại, cả hai đều trở thành nhất đại tông sư trong võ lâm nhưng trong lòng vẫn mang mối hận tình khôn rửa.
Thật đúng là :
Chàng hao tâm đên ơn sư phụ
Nàng tốn hơi để rửa hận tình
Cả đời võ học, lòng không tỉnh
Nên nỗi niềm riêng chẳng được minh.
Nghe kể chuyện Đông Tân - Tây Hải, vị cư sỹ kia chậm rãi cầm điếu vê thuốc rít một hơi rồi phán :
- Theo lão phu thấy, Nam Hằng, Bắc Vũ, Đông Tân, Tây Hải đều dưới An Ninh Tivi một bậc.
Hình ảnh: Bản đồ Việt Nam thời Minh Mạng và Thiệu Trị nhà Nguyễn (trong bài của trang TCĐT).
Đó là thời kỳ thịnh nhất (nếu xét về mặt cương thổ) trong công cuộc Nam Tiến của các triều đại phong kiến nước ta, bắt đàu từ thời Lý, Trần, Hậu Lê cho đến nhà Nguyễn.
Để hiểu hơn về bối cảnh lịch sử cũng như diễn biến của nó trong giai đoạn thời Minh Mạng cho đến đầu Thiệu Trị các bạn có thể tham khảo ở Link :http://www.ctu.edu.vn/~dvxe/doc/Lich%20Su%20Khan%20Hoang%20Mien%20Nam%20(Son%20Nam).pdf
Nói sơ lược, thời Minh Mạng, giữa Xiêm La (Thái Lan, do nhà Chakri trị vì) với Đại Nam thường xảy ra chiến tranh. Năm 1827, quân Xiêm xâm lược Vạn Tượng, vua xứ này là A Nộ (Anouvong) chống không nổi, phải cầu cứu triều đình Đại Nam.
Minh Mạng sai thống chế Phan Văn Thúy mang viện quân sang giúp nhưng bị quân Xiêm đánh bại. Năm 1828, Phan Văn Thúy và Nguyễn Văn Xuân, Nguyễn Khoa Hào tiếp tục đem 3.000 quân và 24 voi chiến đưa A Nộ về Trấn Ninh, rồi tiến vào Vạn Tượng (Vientiane) nhưng đạo quân Nhà Nguyễn – A Nộ lại bị quân Xiêm đập tan. Chán nản, vua Minh Mạng hạ lệnh bãi bỏ và chỉ phòng vệ ở vùng biên giới. A Nộ sau đó chạy về Trấn Ninh và bị bắt nộp cho quân Xiêm.
Quân Xiêm được đà đánh dấn vào các miền phụ cận Quảng Trị. Thống chế Phạm Văn Điển cùng Tham tán Quân vụ Lê Đăng Doanh cùng với các đạo quân Nguyễn ở Lào phải đi ngăn quân Xiêm, đằng khác gửi thư trách cứ họ. Xiêm La trả lời khiêm nhượng rồi rút quân. Tuy vậy, họ vẫn ngấm ngầm giúp Chân Lạp nổi lên chống triều đình Nguyễn hoặc lấn lướt Vạn Tượng và các xứ quy phục triều đình.
Năm 1833, theo lời kêu gọi của Lê Văn Khôi, Xiêm La mang quân vào nội địa Nam Hà và Chân Lạp, nhưng bị quân nhà Nguyễn đánh bại năm 1834.
Sau khi phá được quân Xiêm, Trương Minh Giảng cùng Tham tán Lê Đại Cương lập đồn Đại Nam gần Nam Vang (tức Phnôm Pênh) để bảo hộ Chân Lạp (Campuchia).
Cuối năm Giáp Ngọ (1834), vua Nặc Ông Chân của Chân Lạp qua đời mà không có con trai nối dõi, nên quyền bính chuyển sang cho Trà Long và Lê Kiên - hai người Chân Lạp làm quan cho Việt Nam. Đến năm Ất Mùi (1835), Trương Minh Giảng lập con gái Nặc Ông Chân là công chúa Angmey tức Ngọc Vân công chúa lên làm quận chúa. Trương Minh Giảng đổi Chân Lạp thành Trấn Tây thành, rồi chia làm 32 phủ và 2 huyện, và đặt các chức quan cai quản mọi việc quân sự và dân sự.
Do quan lại người Việt ở Chân Lạp làm nhiều điều ức hiếp, nhũng nhiễu dân Chân Lạp; do nhà Nguyễn bắt Ngọc Vân công chúa đem về Gia Định, đày Trà Long và Lê Kiên ra miền Bắc Đại Nam, dân Chân Lạp oán hận và nổi dậy chống quân Đại Nam ở khắp nơi.
Em trai của Nặc Ông Chân là Nặc Ông Độn đã làm loạn với sự giúp đỡ của Xiêm La. Quan quân nhà Nguyễn đánh dẹp không nổi, nên sau khi vua Minh Mạng qua đời, quan quân Đại Nam phải bỏ Trấn Tây thành mà rút về An Giang.
Về sau, để giữ mối hòa hiếu với Campuchia, sách sử của chúng ta ít nhắc tới điều này.
Dạo này, nhân sự việc Đảng Đối Lập ở Campuchia có những phát biểu mang đầy tính thù nghịch với Việt Nam, lại do duyên cớ hacker Campuchia đánh sập một website của Sóc Trăng, một trang facebook với khá đông thành viên tên là Đơn Vị Tác Chiến Điện Tử có một bài viết với tiêu đề : VÌ SAO NGƯỜI CAMPUCHIA GHÉT VIỆT NAM ?
Trong bài viết đó, trang facebook này có nhắc đến giai đoạn lịch sử trên, cùng với một đoạn có thể gọi là "Tôi ác của quan quân nhà Nguyễn tại Cao Miên"
Bài viết có đoạn :
TRÍCH :
Nguyễn Công Trứ được lệnh , mà không phải được mà do tự xin đi qua đánh Cam . Trong đội quân này có cả đám các phạm tội quân lưu manh: Để bình định nước Cam, NCT yêu cầu triều đình thả những tên côn đồ, hung thủ hơn 3000 tên ra sung vào lính để tăng cường đội quân đàn áp Cam của Trứ, thậm chí còn sẵn sàng hứa hẹn sẽ cho phép lũ vô lại này cướp đất lập làng ở bản xử nếu thành công ( Đại Nam Thực Lục chính biên, năm 1839).Nhắc đến NCT về khoảng quân sự không thể quên vụ khi chiếm xong làng Trà Lũ trong cuộc đàn áp khởi nghĩa Phan Bá Vành thì bắt ngay ra 500 con gái khăc tổ tôm cho lính chơi đấy là trong nước đừng nói bên Cam còn khác như thế nào.Ngoài giết người hãm hiếp ra còn có trò chôn sống nửa người , 3 người một chụm để...bắt bếp nấu.Đập phá tượng Phật , đền chùa , đốt nhà v...v..
Kết quả là dân Cam đã căm hận càng thêm đổ dầu vào lửa nổi lên khắp nơi khiến cho quân NCT trở tay không kịp. Đành chơi trò ưa thích của ông ta là xây thành đắp luỹ , chiếm được đến đâu đắp thành đến đó khiến quân lực dàn trải , tiêu tốn ngân sách để sau này khi Pháp đánh thì Nguyễn Tri Phương chỉ biết lắc đầu " sức ta không bằng 1/10 khi xưa " . Khỏi phải nói trong năm đó NCT xin sớ đánh không nổi rút về nước để lại một hệ luỵ là mối căm thù ăn vào xương của dân Cam.
- HẾT TRÍCH -
Mục đích của bài viết là gì, xin phép được nói ở đoạn kết, còn về đoạn viết này chúng tôi đánh giá là một bài viết mang tính xuyên tạc hình tượng của cá nhân cụ Nguyễn Công Trứ.
Đoạn trích trên, khi chúng tôi tham gia phản biện trên trang ĐVTCĐT thì được biết là trích từ "Đại Nam thực lục chính biên" và "Minh Đô Sử". Tuy nhiên, Sau khi đọc mòn cuốn sách "Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ" (nói về thời Minh Mạng) tôi nhận ra là chẳng có đoạn nào mà như lời của họ.
Còn cuốn Minh Đô Sử vẫn chỉ mới là một bản thảo của một bộ sách nào đó chưa được kiểm hiệu kĩ. Đó là một bộ sách, mục đích ban đầu là chép lại cuộc đời Gia Long, về sau mở rộng ra không chỉ là lịch sử mà còn nhiều lĩnh vực khác.
Bàn về sách này GS. Trị Giáp cho rằng: “Tác giả đã biến tính chất sách sử của mình thành một bộ sách Bách khoa không đầy đủ. Nói như thế không phải là hoàn toàn chê sách Minh đô sử là vô dụng. Mặc dầu Minh đô sử còn chứa chất nhiều lệch lạc về năm tháng, về tên người, tên sách, tên đất, về sự kiện lịch sử.
Tham khảo thêm: http://www.vietgle.vn/trithucviet/detail.aspx?pid=N0ZDODBGMDg&key=Sử+gia+Lê+Trọng+Hàm&type=A0&stype=0
Trang "Đơn vị tác chiến điện tử" này có vẻ tự thể hiện mình như là lính Quân đội Nhân dân Việt Nam nhưng làm việc bẩn thỉu quá: Bịa đặt ra các "tội ác" của Nguyễn Công Trứ đối với Campuchia và người dân Việt Nam, rồi bịa đặt thêm thêm là dẫn nguồn tham khảo từ "Đại Nam thực lục chính biên, năm 1839".
Theo "Đại Nam thực lục chính biên", năm 1839, Nguyễn Công Trứ, lúc đó là "Hữu Tham tri bộ Binh" (tức Thứ trưởng Bộ quốc phòng), không ở Campuchia mà đi đánh dẹp cướp biển người Thanh ở vùng biển ngoài khơi đồng bằng sông Hồng.
Sang năm 1849, cũng theo "Đại Nam thực lục chính biên", Nguyễn Công Trứ có trách nhiệm giữ an ninh ở vùng Trấn Tây (thực chất là vùng Đồng Bằng sông Cửu Long ngày nay). "Đại Nam thực lục chính biên" chép từ góc nhìn của Nhà Nguyễn, nên người Khmer khởi nghĩa / nổi loạn ở đây đều bị coi là giặc.
Đoạn này, "Đại Nam thực lục chính biên" cũng quả có chép một tờ trình của Nguyễn Công Trứ đề nghị Minh Mạng cho phép ông dùng thêm 3000 tù nhân làm lính bổ sung, nhưng không hề có đoạn nào nói về những tội ác rợn người của Nguyễn Công Trứ như cái trang "Đơn vị tác chiến điện tử" này bịa đặt.
Ngược lại, trong tờ trình, Nguyễn Công Trứ còn nói rõ rằng những tù nhân này không phải là những người đã phạm tội nghiêm trọng, có thể dùng dùng vào việc quân, chủ yếu là cho đi lập làng, khai hoang, khi có sự biến thì gọi vào quân ngũ.
Trang "Đơn vị tác chiến điện tử" này còn comment nhiều lần khẳng định mình đã tham khảo sử liệu gốc "Đại Nam thực lục chính biên", tỏ thái độ châm biếm những ý kiến nghi ngờ. (Sic). Nói dối không biết ngượng mồm.
Giả sử việc Nguyễn Công Trứ đã từng phạm tội ác là một sự thật đi nữa, bạn chỉ có thể chứng mình điều này bằng tài liệu khác, chắc chắn không thể chứng minh bằng "Đại Nam thực lục chính biên".
Trang "Đơn vị tác chiến điện tử" này lại bịa thêm là Nguyễn Công Trứ hành xử độc ác với những người dân đi theo khởi nghĩa Phan Bá Vành. Một sự thực là: Sau khi Phan Bá Vành thất bại và tự tử, những người đi theo Phan Bá Vành đã lập đền thờ Nguyễn Công Trứ -- người dẹp loạn. Bởi Nguyễn Công Trứ đã đối xử tốt với kẻ thù, sau khi là "bên thắng cuộc": bố trí lại dân cư và hệ thống thủy lợi một cách khoa học, duy trì an ninh bằng chính sách tốt sau khi thắng bằng quân sự.
"Đơn vị tác chiến điện tử" này còn gán cho Nguyễn Công Trứ những tội ác vốn là của... Khmer Đỏ: chôn 3 người làm 1 chụm, cho lòi cái đầu lên để nấu bếp, chặt đầu tượng Phật...
Nguyễn Công Trứ là đại công thần triều Nguyễn được người dân thờ phụng nơi miếu thất. Sinh thời bên cạnh Nho giáo, ông là người tín Phật và kính Phật, lại nói từ Gia Long cho đến Thiệu Trị đều là những vị vua sùng đạo Phật, nói rằng quân nhà Nguyễn do Nguyễn Công Trứ lãnh đạo có hành vi đập phá chùa chiền, tượng Phật là một điều hết sức khó tin.
Nguyễn Công Trứ có công trong các cuộc dẹp loạn Phạm Bá Vành, Nông Văn Vân, sau khi dẹp loạn ông đều lấy việc an dân làm trọng, thế thì không có lý do nào để Nguyễn Công Trứ lệnh cho thuộc hạ thực hiện những tội ác man rợ như trên tại Cao Miên.
Việc trích sách sử không rõ ràng, làm ảnh hưởng đến hình tượng Nguyễn Công Trứ chưa đủ, tranh facebook này còn xuyên tạc "bắt ngay ra 500 con gái khăc tổ tôm cho lính chơi" thành "bắt 500 con gái cho lính HÃM HIẾP".
Họ quên mất rằng, ngày xưa, chơi có nghĩa là chơi, thuần túy, chứ không mang nghĩa "quan hệ tình dục" như ngày nay.
TẠM KẾT LUẬN.
Nghiên cứu lịch sử, nhìn nhận lịch sử là điều tốt, nhưng mượn danh nghiên cứu lịch sử để nhào nặn lịch sử theo ý mình bất chấp sự thực thì là hành vi đáng lên án.
Một thông tin luôn có 3 lớp : dối trá, sự thật và đằng sau sự thật, ngoài việc nhào nặn bóp méo sự thật thì đằng sau việc này là gì ngoài việc cố tình hạ bệ hình tượng cụ Nguyễn Công Trứ ? Mục đích gì khi đưa thông tin chia rẽ nhân dân Việt - Campuchia trong bối cảnh hiện tại ?
Thời chống Mỹ, chúng ta xác định chống Đế Quốc Mỹ chứ không chống nhân dân Mỹ.
Thời chiến tranh Tây Bắc, chúng ta xác định chống bọn bành trướng Bắc Kinh chứ không chống nhân dân Trung Quốc.
Thời chiến tranh Tây Nam, chúng ta xác định chống tập đoàn diệt chủng Ponpot chứ không chống nhân dân Campuchia.
Vậy nay, đối với việc phe đối lập Campuchia có những phát biểu thù nghịch với VN, mũi dùi nên chỉa vào chính ông ta, không nên có những hành động dù là nhỏ nhất chia rẽ nhân dân Việt Nam - Campuchia.
Những ngày gần đây cư dân mạng Việt Nam đang xôn xao trước thông tin “Đồng tiền Việt Nam có giá trị thấp nhất thế giới” đang được đăng tải trên các báo mạng.
Thông tin này được đăng trên anh lá cải Telegraph và được hệ thống lá cải ở Việt Nam đăng lại.
Bản chất câu chuyện này là rất tầm phào, bởi chẳng có ai lấy một đồng tiền làm chuẩn (trong trường hợp này là đồng Bảng Anh) sau đó quy đổi các loại tiền khác và kết luận loại này rẻ loại kia đắt.
Tuy nhiên, không hiểu sao các anh cải nhà mình lại hồn nhiên copy về và hồn nhiên đăng lên mang vấn đề an ninh tiền tệ (sinh mạng của cả 1 nền kinh tế) ra đùa giỡn và nhồi vào đầu độc giả những hiểu lầm rất tai hại.
Những người không hiểu lại được dịp gia cố thêm sự tự ti, còn các bạn "dân chủ" lại được dịp hả hê vì nghĩ rằng "thông tin này nói lên sự yếu kém của kinh tế VN".

Vấn đề ở đây, khi so sánh về giá trị đồng tiền, người ta so sánh về sức mua của nó (kinh tế học gọi là sức mua tương đương PPP (Purchasing Power Parity))
"Bạn đang làm việc ở thành phố với thu nhập 10 triệu/tháng nhưng vẫn phải xoay xở khó khăn lắm mới đủ sống nhưng nếu ở quê, chỉ với thu nhập 5 triệu bạn đã có thể sống khá sung túc. Hoặc, nếu đang ở Tokyo, một lần đi cắt tóc bạn sẽ mất khoảng 20-30 đô la nhưng ở Hà Nội bạn chỉ mất 1-2 đô la… Đó là những ví dụ thô sơ nhất về PPP.
Ví dụ sâu hơn chút nữa. Nếu tính theo tỷ giá hối đoái thị trường năm 2012, GDP của Mỹ là 15.643 tỷ USD (GDP bình quân đầu người là 49.802 USD), Việt Nam là 136 tỷ USD (GDP bình quân đầu người là 1.523 USD).
Tuy nhiên, để so sánh chính xác hơn sự khác nhau về mức sống thì lại phải cần đến cách thứ ba. Đó là quy đổi đồng đô-la sang sức mua tương đương (PPP), sử dụng một “rổ” hàng hóa và dịch vụ làm đại diện. Cụ thể, Ngân hàng Thế giới tính toán thấy để mua được một rổ hàng hóa điển hình có giá 1 USD ở Việt Nam thì một người dân ở Mỹ phải bỏ ra gần 4 USD.
Vì vậy, để so sánh trên cơ sở ngang bằng sức mua của đồng đô-la, GDP của Việt Nam phải được điều chỉnh tăng lên 4 lần. Kết quả là năm 2012, thu nhập bình quân đầu người của VN tính theo tỷ giá hối đoái là 1.523 USD, còn tính theo PPP là 6.092 USD."
(trích ý kiến phân tích của Cục Gạch)
Thêm vào đó, tỉ giá hối đoái chỉ là vấn đề đáng, cần quan tâm khi bạn kinh doanh hoặc giao dịch bằng ngoại tệ và xuất nhập khẩu.
Trên bình diện Vĩ Mô, đồng tiền đươc "định giá thấp hơn" (theo tỷ giá hối đoái) có mặt hại nhưng cũng có điểm lợi của nó.
Mặt lợi là khi xuất khẩu, các mặt hàng của nước đó sẽ có giá cả phải chăng hơn, dẫn đến tính cạnh tranh cao hơn, ngược lại, những mặt hàng nhập khẩu lại có giá cao hơn.
Nền kinh tế vào hoàn cảnh cụ thể mà có những chính sách để giữ cán cân thanh toán được cân bằng.
KẾT LẠI :
- Muốn so sánh giá trị của đồng tiền, phải so sánh bằng sức mua tương đương của nó.
- Đồng tiền được đình giá (phân biệt giá và giá trị) thấp cũng không phải là vấn đề gì quá bi quan, đơn cứ như vụ TQ phá giá đồng NDT để làm lợi cho xuất khẩu gần đây (http://vietbao.vn/Kinh-te/Trung-Quo-c-pha-gia-dong-Nhan-dan-te/40089971/87/ )
- Việc báo chí có những so sánh để chúng ta biết mình đang ở đâu là việc cần làm, nhưng so sánh mà thiếu kiến thức thì thật tai hại, nhất là màn "hồn nhiên copy" của lá cải VN.